1. Khái quát chung về Thẩm phán và Hội thẩm.

Việc nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Tòa án được thể hiện tập trung nhất thông qua chế định về Hội thẩm nhân dân. Đây là một chế định được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp (từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013). Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, thể hiện bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 103) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 8, 9) thì việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Như vậy, thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia và  địa vị pháp lý của Hội thẩm khi xét xử độc lập với Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc hiến định.

Thẩm phán và Hội thẩm là những người nhân danh nhà nước và pháp luật thực hiện quyền tư pháp, tiến hành bảo vệ pháp luật, bảo vệ trật tự hiến pháp và bảo vệ công lý. Họ luôn được đòi hỏi phải có tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật để thực hiện nhiệm vụ trên. Nghĩa là họ không được phụ thuộc vào bất cứ bên nào trong quá trình xét xử, không thiên về bên cáo buộc cũng như bên bị cáo buộc, bên nguyên đơn cũng như bên bị đơn..., tất cả đối với họ đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án, họ chỉ được tuân theo pháp luật, công lý và chỉ có pháp luật, công lý mà thổi. Để thực hiện được điều đó, họ phải là người  đạo đức liêm khiết, có tinh thần đấu tranh vì lẽ thật, vì công bằng và quan trọng là phải có năng lực xét xử để có thể phán xét được điều đúng, điều sai, đưa ra những phán quyết hợp lý, hợp tình, có sức thuyết phục... Bác Hồ đã có lời dạy đối với cán bộ xét xử: Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao cái gương “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” cho nhân dân noi theo, trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án. Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân. Giúp dân, học dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng.

2. Tiêu chuẩn chuyên môn và tiêu chuẩn đạo đức của Thẩm phán và Hội thẩm.

Tiêu chuẩn chuyên môn và tiêu chuẩn đạo đức của Thẩm phán và Hội thẩm đặt ra bao giờ cũng đặc thù, khắt khe hơn những vị trí, chức danh khác thì mới có thể đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ đã đặt ra.

Thẩm phán theo định nghĩa của A.Hamilton như sau: “Qua thời gian, các vụ án càng ngày càng nhiều, các ý kiến tranh tụng mỗi ngày mỗi dồi dào hơn, kho tàng kiến thức về luật pháp áp dụng trong những vụ xét xử cố nhiên là càng ngày càng đồ sộ thêm, vì thế, muốn trau dồi được kiến thức đó một cách đầy đủ thì các vị Thẩm phán cần phải là những người có chuyên môn, phải bỏ nhiều công sức và thời gian để tích lũy được một sự hiểu biết thích hợp. Vì vậy, trong xã hội chỉ có một số rất ít người có đủ tài cán và hiểu biết để đảm nhiệm chức vụ của các vị Thẩm phán. Hơn nữa, trên đời này những người có đạo đức, thanh liêm, trung thực không phải là nhiều nên số người vừa có tài lại vừa có đức quả là rất hiếm. Như vậy, trong khi chính phủ cần phải lựa chọn những người vừa có tài vừa có đức để bổ nhiệm vào những chức vụ Thẩm phán, nếu nhiệm kỳ của họ chỉ mang tính chất lâm thời, ngắn ngủi thì làm thế nào có thể tìm được những người tài đức sẵn sàng từ bỏ những chức nghiệp nhiều quyền lực, nhiều danh lợi khác để chấp nhận một chức nghiệp thiếu vững chắc như chức nghiệp Thẩm phán? Nếu như vậy thì chức nghiệp này, trong khi cần những người vừa có tài vừa có đức, sau này sẽ chỉ có những người thiếu tài, thiếu đức, khiến cho ngành tư pháp vì vậy mất uy tín, mất lợi ích đối với nhân dân hay không? Trong tình trạng hiện tại của quốc gia và nhất là sau này, nguy cơ đó thật là lớn lao tuy ít người nhận thức được rõ ràng”

Các thẩm phán phải trở thành biểu tượng của đạo đức thanh liêm, tuân thủ những nguyên tắc của Hiến pháp về hoạt động tư pháp...Hội đồng tuyển chọn, giám sát thẩm phán quốc gia vừa ban hành quyết định số 87/QĐ-HĐTC có hiệu lực từ ngày 4/7 về bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của thẩm phán.Theo đó, thẩm phán là người được chủ tịch nước bổ nhiệm để nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Các thẩm phán phải trở thành biểu tượng của đạo đức thanh liêm, tuân thủ những nguyên tắc của Hiến pháp về hoạt động tư pháp...Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của thẩm phán vừa ban hành áp dụng với thẩm phán công tác tại tòa án nhân dân, tòa án quân sự các cấp; khuyến khích áp dụng với các thẩm phán đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác.

7 chuẩn mực đạo đức của thẩm phán phải tuân thủ như sau

- Tính độc lập

- Liên chính

- Vô tư, khách quan

- Công bằng bình đẳng

- Đúng mực

-Tận tụy

- Không chậm trễ, có năng lực và chuyên cần

Còn đổi với hội thẩm các quy định về tiêu chuẩn của Hội thẩm còn rất chung chung và khác xa so với những tiêu chuẩn đặt ra đối với Thẩm phán, đó là “có kiến thức pháp lý” và “phải được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ”. 

Thực tế hiện nay, trình độ chuyên môn của đội ngũ Hội thẩm nhân dân không đồng đều và chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ. Theo thống kê, đến nay tổng số Hội thẩm nhân dân TAND địa phương (nhiệm kỳ 2011-2016) đã bầu được 15.630 người. Trong đó, Hội thẩm nhân dân có trình độ cử nhân Luật chỉ chiếm 18,5% và có đến gần 29% có trình độ dưới đại học. Hội thẩm quân nhân Toà án Quân sự (nhiệm kỳ 2009-2014) cũng chỉ có 17% có trình độ cử nhân Luật.
Trên thực tế, chính vì trình độ của Hội thẩm nhiều nơi chưa đạt “chuẩn” dẫn đến tình trạng chỉ “ngồi cho đủ mâm”. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ án khi mà việc tham gia xem xét, đánh giá các chứng cứ của Hội thẩm ở mức độ hạn chế.

Thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi những người thực hiện phải được đào tạo kỹ lưỡng, đầy đủ thì mới có thể đảm trách được, nhất là các vụ việc có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hội nhập hiện nay. Đây là một thực tế, không thể ảo tưởng một người đào tạo không chuyên, với một nhận thức thông thường là có thể xét xử được, vì ngay cả những Thẩm phán được đào tạo bài bản, có nhiều năm kinh nghiệm cũng vẫn có thể bị Tòa án cấp trên hủy, sửa phán quyết do xét xử không đúng. Chính vì thế, việc xét xử phải giao cho Thẩm phán là những người được đào tạo kỹ lưỡng, có trình độ pháp lý ở mức độ cao, có nghiệp vụ xét xử được đào tạo khoa học, có tính chuyên nghiệp thì mới có thể bảo vệ công lý và cũng chỉ có họ với tính chuyên nghiệp, đạo đức vững vàng, ổn định nghề nghiệp mới có thể bảo vệ công lý.

3. Về sự tham gia xét xử của nhân dân.

Nếu nguyên tắc “tòa án nhân dân xét xử công khai” là cơ chế bảo đảm sự kiểm soát có tính chất tổng thể, từ bên ngoài của toàn xã hội đối với hoạt động xét xử của tòa án, thì nguyên tắc “xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân có hội thẩm tham gia” chính là cơ chế bảo đảm cho nhân dân kiểm tra trực tiếp, cụ thể và từ bên trong của hoạt động này. Tư tưởng xây dựng một nền tư pháp “lấy dân làm gốc” đã được khẳng định ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946 của Nhà nước ta: “Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại hình” (Điều thứ 65)

Về sự tham gia xét xử của nhân dân, các nước đều có quy định về Bồi thẩm đoàn hoặc là Hội thẩm nhân dân. Tại nhiều nước trên thế giới, Bồi thẩm đoàn là những người được lựa chọn ngẫu nhiên trong danh sách đăng ký cử tri (Mỹ, Anh, Pháp...) hoặc được lựa chọn như là Thẩm phán không chuyên (Đức...). Khi xét xử, Bồi thẩm đoàn là người đưa ra nhận định, quyết định “question of fact” - các vấn đề về sự thật, sự việc, tình tiết; còn Thẩm phán là người đưa ra nhận định, quyết định “question of law” - các vấn đề về pháp lý (áp dụng điều luật, quyết định hình phạt, giải quyết tranh chấp...). Bồi thẩm đoàn là những người với nhận thức thông thường có thể đánh giá ở góc độ khách quan, phổ biến của một người dân bình thường về những sự việc, tình tiết xảy ra, trên cơ sở đó giúp Thẩm phán là những người chuyên nghiệp đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật đúng đắn, thuyết phục. Có thể thấy, quy định về Bồi thẩm đoàn như vậy sẽ phát huy tính xã hội, giúp cho Thẩm phán xác định “hạt nhân hợp lý” của tính xã hội một cách thuận lợi, phục vụ cho việc bảo vệ công lý.

Theo pháp luật nước ta, Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, có nhiệm kỳ cùng với Hội đồng nhân dân. Khi xét xử sơ thẩm, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán và chiếm đa số trong thành phần Hội đồng xét xử (là 2/3 hoặc 3/5), với cơ chế đưa ra phán quyết theo đa số. Có thể thấy, Hội thẩm nhân dân là những người có uy tín, có khả năng xét xử, được Hội đồng nhân dân tin tưởng bầu chọn. Bởi đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên họ vẫn là người được bầu chọn theo cơ cấu, theo định hướng, ảnh hưởng bởi tính giai cấp; và bởi họ cũng là người đại diện cho cử tri, nắm bắt được nhu cầu, lợi ích chung của địa phương nên họ cũng đại diện cho tính xã hội, tuy nhiên do tính chất nhiệm kỳ, không ổn định nên họ khó có điều kiện để có thể chuyên tâm nghiên cứu đến “tầng sâu” của pháp luật và bảo vệ công lý như các Thẩm phán được đào tạo chuyên nghiệp, đại diện cho “tầng sâu” của nhà nước.  Hội thẩm có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa. Hội thẩm cũng có nhiệm vụ và quyền hạn đó chính là nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa. Vậy hồ sơ vụ án là gì? Đó là tập hợp các văn bản (tài liệu) do các cơ quan tiến hành tố tụng lập theo quy định của pháp luật trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng đắn

4. Về vấn đề bảo vệ công lý

Tuy có khẳng định vai trò quyết định của tính xã hội đối với tính giai cấp, nhưng không có nghĩa là loại trừ tính giai cấp, do đó trong thành phần xét xử, bên cạnh vai trò chính là Thẩm phán không thể thiếu vai trò của Hội thẩm nhân dân. Điều này đã là nguyên tắc hiến định - “việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” (Điều 103 Hiến pháp năm 2013). Tuy nhiên, để thể hiện vai trò bảo vệ “hạt nhân hợp lý” của tính xã hội, phù hợp với nghề nghiệp ổn định của Thẩm phán là người có chuyên môn xét xử và cũng là đảm đảm tính độc lập, chúng tôi ủng hộ quan điểm thành phần xét xử sơ thẩm nên có Thẩm phán chiếm đa số so với Hội thẩm, là 02 Thẩm phán và 01 Hội thẩm hoặc 03 Thẩm phán và 02 Hội thẩm là phù hợp. Đồng thời, các Hội thẩm được bầu phải là người có trình độ chuyên ngành đa dạng trong mỗi lĩnh vực như xây dựng, nhà đất, y tế... bao quát các lĩnh vực xã hội để khi xét xử các vụ việc liên quan đến lĩnh vực khác nhau đều có Hội thẩm am hiểu lĩnh vực đó giúp cho Thẩm phán xét xử đúng đắn. Bên cạnh đó, Hội thẩm nhân dân là người do nhân dân địa phương bầu ra nên họ sẽ là người thay mặt chính quyền địa phương truyền tải chính sách, đường lối quản lý của địa phương tốt nhất để giúp cho việc xét xử của Thẩm phán vừa đảm bảo đúng pháp luật, vừa đảm bảo phù hợp với tình hình địa phương từng thời điểm, phát huy tối đa hiệu quả của bảo vệ công lý và các lợi ích khác.

5. Về nhiệm kỳ của Thẩm phán

Thẩm phán Tòa án nhân dân theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 bao gồm: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán cấp. Về thực tiễn, Thẩm phán cấp bổ nhiệm lần đầu với nhiệm kỳ 05 năm, đa số là chưa có kinh nghiệm nên thường có tỷ lệ phán quyết bị hủy, sửa cao, dễ bị dao động, khó có tính độc lập như các Thẩm phán lâu năm, đã được tái bổ nhiệm nhiều lần. Họ là người dễ bị một số lãnh đạo có mưu cầu tư lợi lợi dụng nhất vì họ luôn bị sức ép của việc tái bổ nhiệm, lo sợ lãnh đạo giao nhiều vụ việc khó nếu xử không tốt bị hủy, sửa nhiều thì sẽ không được tái bổ nhiệm, còn nếu được ưu ái giao vụ việc dễ thì phải “ngoan ngoãn” nghe theo sự chỉ đạo của lãnh đạo. Với kinh nghiệm chưa nhiều, cộng với trách nhiệm cao nên các Thẩm phán mới thường chọn cho mình phương án an toàn là nghe theo lãnh đạo hơn là thể hiện tính độc lập, từ đó dễ phát sinh tiêu cực. Để tránh tình trạng này, cần thiết phải quy định chế độ Thẩm phán phụ thẩm (như Đức, Nhật, Trung Quốc hiện áp dụng...). Thẩm phán phụ thẩm do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm với nhiệm kỳ 05 năm, làm việc có tính chất tập sự theo sự hướng dẫn, giám sát của Thẩm phán chính thức, họ được tham gia cùng với Thẩm phán chính thức nhưng khi ra phán quyết phải có sự đồng ý của Thẩm phán chính thức. Sau khi hết 05 năm, họ phải được các Thẩm phán chính thức nhận xét tốt và trải qua kỳ sát hạch cuối cùng để được Chủ tịch nước bổ nhiệm là Thẩm phán chính thức. Quy định như vậy sẽ đào tạo ra những Thẩm phán có đủ kinh nghiệm, bản lĩnh để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Và như vậy, các Thẩm phán chính thức đều nên quy định có nhiệm kỳ lâu dài, có thể cùng là 10 năm như quy định hiện nay và lộ trình nên theo hướng lâu dài đến khi nghỉ hưu.

Ngoài ra cũng có nhiều luồng kiến nghị cho rằng cần bổ sung thêm nhiệm kì của thẩm phán theo đó: 

Dự thảo đề nghị sửa đổi Điều 74 theo hướng bổ nhiệm không có nhiệm kỳ (bổ nhiệm suốt đời) nhằm tạo điều kiện cho thẩm phán trau dồi kinh nghiệm, kỹ năng xét xử. Đối với những thẩm phán không đủ điều kiện thì đã có quy định về cách chức thẩm phán theo quy định tại Điều 82 của luật.

Quy định hiện hành chưa hợp lý, ít nhiều tạo tâm lý không yên tâm làm việc của thẩm phán, ngoài ra phải thực hiện nhiều lần quy trình bổ nhiệm lại gây mất thời gian. “Thực tiễn có tình trạng nhiều thẩm phán hết nhiệm kỳ nhưng chưa được bổ nhiệm lại” Ngoài ra trường hợp chánh án, phó chánh án hết nhiệm kỳ thẩm phán (có thể đang được xem xét bổ nhiệm lại hoặc phải tạm dừng một thời gian) nhưng vẫn còn nhiệm kỳ lãnh đạo. Vậy những trường hợp này như thế nào, có được tiếp tục điều hành tòa án không, có được ký những văn bản về tố tụng hay chỉ ký những văn bản hành chính?

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TAND Tối cao Ngô Văn Nhàn đồng tình với đề nghị bổ nhiệm thẩm phán suốt đời nhưng cần có lộ trình thực hiện. Theo ông Nhàn, trước hết có thể áp dụng với đối tượng là thẩm phán TAND Tối cao do Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước bổ nhiệm. Thẩm phán Tòa Tối cao là ngạch thẩm phán đặc biệt với những tiêu chuẩn, điều kiện để được bổ nhiệm rất cao. Để có được các tiêu chuẩn, điều kiện này, họ phải trải qua một quá trình công tác lâu dài, năng lực và uy tín đã được thể hiện, ghi nhận qua vài chục năm công tác và là những người tuổi đã cao.

Nhiệm kì của Thẩm phán cần phải theo hướng đảm bảo tính lâu dài. Ở nhiều nước trên thế giới, nhiệm kỳ của Thẩm phán được quy định là suốt đời (như Argentina, Anh, Mỹ, Canada, Pháp và nhiều nước Đông Âu, Trung Âu...). Theo nguyên tắc về nhiệm kỳ của Thẩm phán của Liên hợp quốc quy định: “Thẩm phán dù được bổ nhiệm hay bầu ra đều phải được bảo đảm thời gian làm việc cho đến tuổi nghỉ hưu bắt buộc hay hết nhiệm kỳ ở những nơi có chế độ như vậy Nhiệm kỳ lâu dài có ưu điểm làm cho Thẩm phán không phải lo lắng quá nhiều về việc tái bổ nhiệm khi hết nhiệm kỳ, khiến cho họ có thể đưa ra phán quyết mà không phải bận tâm tới phúc lợi cá nhân và nghề nghiệp của họ Mặt khác, nhiệm kỳ lâu dài của Thẩm phán thể hiện tính nghề nghiệp ổn định, làm cho họ chuyên tâm phát triển nghề nghiệp để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý. Tuy nhiên, để phòng ngừa hệ quả không tốt từ nhiệm kỳ lâu dài dễ nảy sinh tâm lý tự mãn, quy định này thường đi kèm với các quy trình lựa chọn, bổ nhiệm, tham gia đào tạo bắt buộc, giải trình tư pháp của Thẩm phán, quy định kỷ luật, chịu trách nhiệm của Thẩm phẩm một cách thường xuyên, nghiêm ngặt và minh bạch.