1. Định nghĩa hoạt động nhân đạo quốc tế

Trong lý luận và thực tiễn quan hệ quốc tế, có những thuật ngữ khác nhau dùng để chỉ sự tồn tại của luật quốc tế nhân đạo, như “Luật xung đột vũ trang”, “Luật lệ và tập quán quốc tế về chiến tranh”. Một số tác giả phân chia luật quốc tế ra thành hai phần: Luật quốc tế thời chiến và luật quốc tế thời bình. Luật quốc tế thời chiến được phân chia thành hai phần: “Luật Lahaye ”, tức hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật áp dụng trong chiến cuộc, nhằm hạn chế áp dụng các phương pháp, phương tiện chiến tranh và “Luật Geneva ”, tức hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật áp dụng trong và sau chiến cuộc, nhằm bảo hộ và giúp đỡ các nạn nhân của cuộc xung đột vũ trang. Luật Lahaye là luật dành cho con người được vũ trang cốn Luật Geneva là luật dành cho con người không được vũ trang trong chiến cuộc.

Luật lệ chiến tranh đã được tồn tại từ lâu dưới các hình thức tập quán hoặc dưới hình thức các quy định của luật trong nước. Ngay từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại, giữa các quốc gia trong khu vực này đã tổn tại quy phạm tập quán pháp, theo đó, có những quy định, như chiến tranh không thể bắt đầu nếu thiếu tuyên bố về nó; người chết trên chiến trường phải được chôn cất; khi chiếm một thành phổi, làng mạc thì binh sỹ không được sát hại những người ẩn nấp trong các nhà thờ; tù binh sẽ được trao đổi, mua lại hoặc có thể biến thành nô lệ chứ không được giết... Trải qua hàng trăm năm lịch sử, quá trình nhân đạo hoá xung đột vũ trang cũng có những tiến bộ lớn, nhất là từ thế kỷ XIX, với sự ra đời của các tổ chức nhân đạo ở các nước khác nhau. Năm 1863, H. Dunant đã cùng với bốn người Geneva khác là Moynier, tướng Dufour, các bác sỹ Appia và Maunoir thành lập Ưỷ ban quốc tế thường trực cứu trợ người bị thương - tổ chức tiền thân cùa Ưỷ ban quốc tế chữ thập đỏ hiện nay (CICR).

CICR là một tổ chức trung lập, phi chính phủ, trong đó các thành viên đều là người Thụy Sỹ. Với tư cách là người sáng lập phong trào chữ thập đỏ CICR đặt cho mình nhiêm vụ quan trọng hàng đầu là hỗ trợ và thúc đẩy các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các cá nhân thực hiên nghiêm chỉnh các Công ước Geneva và các điều ước quốc tế khác do CICR khởi xướng ký kết, nhằm bảo hộ các nạn nhân chiến tranh. CICR được thừa nhân gần như là tổ chức quốc tế phi chính phủ duy nhất có thể vượt qua hàng rào dây thép gai, qua các cuộc phong toả hay giới nghiêm trong vùng bị chiếm đóng để chuyển lương thực, thuốc men và quần áo đến những người dân lâm nạn. Quyền hoạt động của CICR trong thời chiến được xây dựng trên cơ sở bốn Công ước Geneva năm 1949 về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, các nghị định thư bổ sung các công ước đó và điều lê của CICR.

Trên bình diện toàn cầu, luật quốc tế nhân đạo là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật được xác lập nhằm giảm bớt nỗi đau của tất cả những nạn nhân trong xung đột vũ trang khi rơi vào tay kẻ thù, dù đó là người bị thương, bị ốm, bị đắm tàu, bị bắt làm tù binh hoặc thường dân.

Với ý nghĩa đó, luật quốc tế nhân đạo là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia trong giai đoạn xung đột vũ trang, nhằm hạn chế áp dụng các phương tiện, phương pháp tiến hành chiến tranh, bảo hộ nạn nhân chiến tranh và định lập trách nhiệm đối với các chủ thể vi phạm các nguyên tắc, quy phạm đó của pháp luật quốc tế.

Cần phân biệt luật quốc tế nhân đạo với luật quốc tế về quyền con người. Khi nghiên cứu vấn đề này, Ch. Swinarski, Trưởng đoàn Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế khu vực Đông Nam Á đã có nhân xét, trong lịch sử phát triển của luật quốc tế đã có sự nhầm lẫn về nội dung và phạm vi áp dụng của các ngành luật này. Theo ông, luật quốc tế nhân đạo là bộ phận của các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, được áp dụng trong trường hợp xung đột vũ trang, ở phạm vi quốc gia hoặc quốc tế, nhằm hạn chế quyền của các bên tham chiến chọn các phương thức chiến đấu (Luật Lahaye) và để bảo vệ nạn nhân chiến tranh (Luật Geneva). Vị trí của luật quốc tế nhân đạo trong luật quốc tế được ghi nhận và khẳng định trong Bộ luật quốc tế về chiến tranh và nghiêm cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế theo Hiến chương Liên hợp quốc. Luật quốc tế nhân đạo do các chính phủ (hoặc các bên tham chiến) áp dụng cho nạn nhân chiến tranh nhưng những cá nhân được hưởng quyền này có rất ít khả năng để phản ánh tình hình tôn trọng hoặc vi phạm quyền mà họ được hưởng. Trong luật quốc tế nhân đạo, con người là đối tượng được bảo hộ, còn trong luật quốc tế về quyền con người thì con người được chủ động về quyền của mình.

2. Nguồn của luật quốc tế nhân đạo

Luật quốc tế nhân đạo được xây dựng chủ yếu dựa trên các quy định của luật lệ và tập quán chiến tranh. Sự ra đời của luật quốc tế nhân đạo được khẳng định bởi việc ký kết Công ước Geneva năm 1864 về cải thiện số phận của thương, bệnh binh trong các lực lượng vũ trang trên chiến trường. Năm 1899, tại Lahaye, một công ước khác áp dụng các nguyên tắc cùa Công ước Geneva năm 1864 vào chiến tranh trên biển đã được ký kết. Những quy định của công ước này đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 1905. Năm 1907, một loạt công ước đã được ký kết liên quan đến luật quốc tế nhân đạo, đó là Công ước Lahaye về quy chế của tàu thuyền thương mại của quốc gia đối phương trong giai đoạn khởi chiến... Sau Đại chiến lần thứ I, hàng loạt điều ước quốc tế được ký kết, trong số đó phải nói đến Nghị định thư Geneva năm 1925 về cẵin áp dụng hơi ngạt, hơi độc hoặc các loại khí tương tự và cám áp dụng các vật thể độc tố; các Quy tắc năm 1936 về tác chiến của tàu ngầm đối với tàu buôn trong thời chiến; Hiệp định Nione năm 1937 về các biện pháp chống hành động cưáp biển của tàu ngầm. Sau Đại chiến thế giới lần thứ n, Hội nghị ngoại giao năm 1949 tại Geneva đã thông qua các công ước quốc tế quan trọng về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đó là Công ước Geneva năm 1949 về cải thiên số phạn người bị thương và bị ốm trong các lực lượng vũ trang trên chiến trường (CƯ I); Công ước Geneva năm 1949 về cải thiên số phận người bị thương, bị ốm và bị đắm tàu trong lực lượng vũ trang trên biển (CƯ n); Công ước Geneva năm 1949 về đối xử với tù binh chiến tranh (CƯ m); Công ước Geneva năm 1949 về bảo hộ thường dân trong thời chiến (CƯ IV). Các Công ước Geneva năm 1949 gồm gần 400 điều khoản thực sự là một Bộ luật quốc tế nhăn đạo đổ sộ, góp phần to lớn trong việc bảo hộ một số lượng lớn nạn nhân chiến ữanh trong nửa thế kỷ qua.

Bên cạnh các điều ước quốc tế nhiều bên đó, sau Đại chiến thế giới thứ n còn có Công ước La Hay năm 1954 về bảo vệ các giá trị văn hoá; Công ước năm 1972 về cấm sản xuất, tàng trữ các vũ khí chất độc, vi trùng và về các biện pháp huỷ bỏ các vũ khí đó; Công ước năm 1980 về cấm hoặc hạn chế sử dụng một số loại vũ khí thông thường có thể gây đau đớn cao độ hoặc có tác động ngoài khả năng kiểm soát và các Nghị định thư đính kèm Công ước đó; Công ước năm 1993 về cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ và áp dụng các vũ khí hoá học va về các biện pháp huỷ bỏ vũ khí đó; Công ước năm 1997 về cấm sử dụng, tàng trữ, sản xuất và chuyển giao các loại mìn sát thương và về các biện pháp huỷ bỏ chúng.

Trong quan hệ quốc tế thời chiến, khi các hoạt động của quốc gia đây không được điều chỉnh bỏi luật quốc tế nhân đạo, thì việc bảo hộ các chiến binh, thường dân và nạn nhân chiến tranh phải tuân theo “Công thức Marteus”. Theo công thức này “thường dân và các chiến binh phải luồn được đặt dưới sự bảo hộ và che chở theo các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế ở chừng mực mà các luật lệ, tập quán nhân đạo của các dân tộc văn minh đã định lập và các đòi hỏi của ỷ thức xã hội đặt ra”. Đây là một trong những công thức quan trọng đã từ lâu được phổ biến trong luật quốc tế nhân đạo.

3. Các nguyên tắc của luật quốc tế nhân đạo

Với tư cách là ngành luật độc lập thuộc hệ thống luật quốc tế, luật này dựa trên các nguyên tắc sau:

- Nhân đạo hoá xung đột vũ trang;

- Bảo hộ theo luật quốc tế các nạn nhân chiến tranh;

- Hạn chế các bên tham chiến trong lựa chọn các phương pháp, phương tiên chiến tranh;

- Bảo vệ các hạng mục dân sự và giá trị văn hoá khởi xự tấn công của các lực lượng vũ trang;

- Bảo hộ quyền lợi của các quốc gia trung lập.

Bên cạnh các nguyên tắc đặc thù đó, luật quốc tế nhân đạo còn có các nguyên tắc chuyên biệt, áp dụng cho các bên tham chiến:

- Những người “ngoài vòng chiến đấu” và những người không trực tiếp chiến đấu đều được tôn trọng về tính mạng, bảo toàn về thân thể và tinh thần. Họ phải được bảo vệ và đối xử nhân đạo trong bất cứ hoàn cảnh nào;

- Cấm bắn giết hoặc làm tổn thương những người đã đầu hàng hoặc đã “ngoài vòng chiến đấu”;

- Tù binh và thường dân năm dưới quyền của bên đối chiến phải được tôn trọng về sinh mạng, phẩm giá, nhân quyền và quyền khiếu kiện. Không được dùng các hành động bạo lực hoặc báo thù đối với họ. Họ được quyền Hên hệ với gia đình và tiếp xúc với những người thân.;

- Mỗi người đều được hưởng các bảo đảm pháp luật cơ bản. Không ai phải chịu trách nhiệm về những việc mà họ không phạm phải. Không được dùng tra tấh về thể chất và tinh thần, nhục hình hoặc làm mất nhân phẩm họ;

- Các bên tham chiến và quân đội không được phép sử dụng các phương pháp tác chiến một cách không hạn chế. Nghiêm cấm sử dụng các vũ khí hoặc phương tiện chiến tranh gây ra những tác hại không cần thiết hoặc quá đau đớn;

- Các bên tham chiến luôn luôn phải phân biệt rõ thường dân và chiến đấu viên để bảo vệ thường dân và tài sản của họ. Thường dân và mọi người dân không vũ trang không được coi là mục tiêu để tấn công. Chỉ được tấh công trực tiếp vào các mục tiêu quân sợ.

Trong thời đại ngày nay, mặc dù chiến ttanh xâm lược bị đặt ra ngoài vòng pháp luật nhưng xung đột vũ trang vẫn còn ở các quy mô và mức độ khác nhau. Chính vì vây tư tưởng nhân đạo hoá xung đột vũ trang vấn còn là tư tưởng thống trị các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế nhân đạo ngày nay.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)