1. Hối phiếu hoạt kỳ

Hối phiếu hoạt kỳ là lệnh bằng văn bản chỉ thị thực hiện ngay việc chi trả, cho bên thứ ba. Người viết hối phiếu được gọi là người chi trả; ngân hàng thực hiện thanh toán gọi là bên chi trả hoặc ngân hàng chi trả. Người thụ hưởng hối phiếu hoạt kỳ là người nhận thanh toán, người được trả tiền. Các hối phiếu có thể được trả vào một ngày trong tương lai (hối phiếu kỳ hạn) hoặc ngay lúc nhận (hối phiếu hoạt kỳ). Các hối phiếu hoạt kỳ rút tiền từ ngân hàng là những chi phiếu.

Hối phiếu là hình thức cho vay ngắn hạn thể hiện qua văn bản mà người hưởng hối phiếu yêu cầu bên phát hành trả cho mình một khoản tiền nhất định. Bên nợ phải hoàn tiền ngay sau khi nhận được hối phiếu của chủ nợ yêu cầu. Khi đã được Ngân hàng chấp nhận và ký hậu thì hối phiếu có thể chiết khấu hoặc thương lượng với giá thấp hơn. Hơn nữa, lãi suất cũng ngắn hạn hơn so với thị trường. Thông thường, thời hạn cao nhất của hối phiếu là 06 tháng và được sử dụng phổ biến trong việc tài trợ thương mại và luân chuyển vốn trong các ngành nông – công nghiệp. Để tài trợ cho thị trường kinh doanh trong nước thì hối phiếu nội địa được phát hành. Còn đối với các giao dịch nước ngoại thương thì áp dụng hối phiếu ngoại thương.

Hối phiếu nội địa thường được thay thế bằng các tín dụng thương mại hay bằng tiền được vay mượn từ Ngân hàng. Đây là hình thức vẫn được vương quốc Anh áp dụng, trước tiên là để tài trợ cho hợp đồng giao dịch thuê mua và sau đó phục vụ cho nhiều mục đích được nhiều doanh nghiệp lớn lựa chọn.

Riêng ở Mỹ, các tập đoàn đa phần sử dụng hình thức chứng phiếu ngắn hạn còn hối phiếu dùng riêng cho việc đáp ứng các nhu cầu trong lĩnh vực tài chính. Tín phiếu cũng được xem là loại hối phiếu để phục vụ cho việc trả nợ ngắn hạn, do chính phủ ban hành.

Chứng chỉ hối phiếu là hình thức nguyên thuỷ của hối phiếu. Khoảng thế kỉ XII, thương nhân ở Italia đã phát hành các chứng chỉ nhận nợ làm công cụ thanh toán trong quan hệ thương mại gọi là chứng chỉ hối phiếu. Trong tờ chứng thư, người phát hành cam kết với người thụ hưởng về việc thanh toán giá trị tương ứng (có khấu trừ phần phí dịch vụ) tại nơi khác bằng đồng tiền được sử dụng tại nơi đó, Đến thế kỉ XIV, ngoài loại nhận nợ, xuất hiện hình thức hối phiếu đòi nợ. Từ thế kỉ XVI, khi hối phiếu được chuyển nhượng thì trở thành công cụ thanh toán ngày càng rộng rãi trong quan hệ thương mại nội địa ở từng quốc gia và cả thương mại quốc tế. Tuy vậy, do pháp luật của các quốc gia có những khác biệt nên phát sinh các tranh chấp. Các Hội nghị Haagen (Đức) vào năm 1910 và năm 1912 đặt nền móng cho các thoả thuận quốc tế về hối phiếu. Song do chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nên mãi đến năm 1930, Hội nghị quốc tế về hối phiếu tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) mới thông qua 3 bản Hiệp ước liên quan đến hối phiếu. Tuy nhiên, do các nước thuộc hệ pháp luật Anh - Mỹ không tham gia nên mục tiêu của Hiệp ước này không đạt được. Để quốc tế hoá việc sử dụng hối phiếu, ngày 09.12.1988, Đại hội đồng Liên hợp quốc tại-khoá họp lần thứ 43 đã thông qua Hiệp ước thống nhất về hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ quốc tế. Hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ có những dấu hiệu cơ bản sau: thứ nhất, hối phiếu là chứng chỉ có giá và có giá trị lưu thông; thứ hai, khoản tiền thanh toán được xác định cụ thể (thông qua xác định mệnh giá và lãi suất chiết khấu).

Ở Việt Nam, trong quyền hạn tnanh toán với nhân dân, hối phiếu chưa được sử dụng phổ biến. Theo quy định của Luật thương mại năm 1997, năm 2005 và Pháp lệnh thương phiếu năm 1999, thương phiếu gồm hối phiếu và lệnh phiếu. Theo quy định của Pháp lệnh thương phiếu thì hối phiếu tương tự hối phiếu đòi nợ, còn lệnh phiếu tương tự hối phiếu nhận nợ ở các nước.

2. Đặc điểm của hối phiếu

Hối phiếu có 3 đặc điểm chính như sau:

Tính bắt buộc của hối phiếu: Hối phiếu là "tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện". Người trả tiền hối phiếu phải trả theo đúng nội dung ghi trên tờ phiếu và không thể viện bất cứ lý do riêng nào của mình để từ chối trả tiền đối với người ký phát hối phiếu hay người thụ hưởng, trừ trường hợp hối phiếu được lập ra trái với các đạo luật chi phối nó.

Tính trừu tượng của hối phiếu: Trên hối phiếu không nêu nguyên nhân phát sinh việc lập hối phiếu, mà chỉ ghi số tiền phải trả và những nội dung liên quan đến việc trả tiền. Hiệu lực pháp lý của hối phiếu cũng không bị ràng buộc bởi bất cứ nguyên nhân gì sinh ra hối phiếu. Nói cách khác, nghĩa vụ trả tiền của hối phiếu là trừu tượng.

Tính lưu thông của hối phiếu: Hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời hạn của nó. Hối phiếu có tính chất này vì hối phiếu là lệnh đòi tiền của người này với người khác, trên hối phiếu có một giá trị tiền nhất định và hối phiếu có tính bắt buộc & tính trừu tượng.

Chức năng của hối phiếu

Hối phiếu có 3 chức năng:

- Hối phiếu là phương tiện thanh toán: hối phiếu là phương tiện giúp người bán đòi tiền người mua và giúp người chuyển tiền trả nợ cho người bán;

- Hối phiếu là phương tiện đảm bảo: hối phiếu là chứng từ có giá do đó nó có thể mua bán, cầm cố, thế chấp, v.v

- Hối phiếu là phương tiện cung cấp tín dụng: Vì hối phiếu là một chứng từ có giá nên nó có thể là công cụ hữu hiệu trong việc cung ứng các khoản tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng.

3. Các bên tham gia hối phiếu

(1) Người kí phát (drawer): là người lập và kí phát hành hối phiếu

(2) Người bị kí phát (còn gọi là người thụ tạo, drawee): là người có trách nhiệm thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu.

(3) Người chấp nhận (acceptor): là người bị kí phát sau khi kí chấp nhận hối phiếu.

(4) Người thụ hưởng (benificiary): là người sở hữu hợp pháp hối phiếu, do đó có quyền được nhận thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu.

(5) Người chuyển nhượng (endorser hay assignor): là người chuyển quyền hưởng lợi hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hay bằng thủ tục kí hậu. 

(6) Người bảo lãnh (avaliseur) là bất cứ người nào kí tên vào hối phiếu ngoại trừ người kí phát và người bị kí phát.

4. Phân loại hối phiếu

Hối phiếu chủ yếu được dùng trong thanh toán thương mại quốc tế. Có nhiều loại hối phiếu và có thể nhận biết chúng dựa trên các tiêu thức sau:

* Căn cứ vào thời hạn trả tiền

Hối phiếu trả tiền ngay

Với loại hối phiếu này thì người trả tiền khi nhìn thấy nó bắt buộc phải trả ngay số tiền trên hối phiếu cho người thụ hưởng mà không được viện bất kì lí do gì để trì hoạn hoặc từ chối thanh toán nếu tờ hối phiếu đó được phát hành theo đúng các qui định của luật hối phiếu và không có bất kì lí do gì về đình chỉ thanh toán nó.

Hối phiếu có kì hạn

Khi hối phiếu này được xuất trình, thì người trả tiền phải kí chấp nhận trả tiền trên hối phiếu đó. Việc trả tiền được thực hiện vào một ngày được xác định trong tương lai.

* Căn cứ vào chứng từ hàng hóa đi kèm, hối phiếu này có hai loại:

Hối phiếu trơn (Clean bill of Exchange)

Hối phiếu trơn là hối phiếu được phát hành để đòi tiền người phải trả tiền không có chứng từ hàng hóa đi kèm. Nó thường hay được sử dụng để thanh toán các khoản tiền phạt, tiền bồi thường, các khoản phí như phí bảo hiểm, phí vận tải...

Hối phiếu kèm chứng từ

Loại hối phiếu này được phát hành cho người nhập khẩu (người trả tiền) có kèm theo bộ chứng từ hàng hóa. Các chứng từ này phải đi liền không được tách rời nhau. Trong thanh toán mậu dịch quốc tế bao giờ cũng sử dụng hối phiếu.

* Căn cứ vào tính chuyển nhượng, hối phiếu có các loại sau:

Hối phiếu đích danh

Hối phiếu này ghi rõ tên người thụ hưởng, không kèm theo điều khoản trả theo lệnh nên không chuyển nhượng được.

Hối phiếu vô danh

Loại này không ghi tên người thụ hưởng mà chỉ ghi cụm từ "trả cho người cầm hối phiếu". Nên ai cầm nó thì là người được hưởng các quyền lợi của hối phiếu.

Hối phiếu theo lệnh

Là loại hối phiếu trả theo lệnh của người thụ hưởng, loại này được chuyển nhượng bằng cách kí chuyển nhượng ở mặt sau của hối phiếu (gọi là kí hậu chuyển nhượng).

* Căn cứ vào chủ thể lập hối phiếu sẽ có các loại hối phiếu sau:

Hối phiếu thương mại (Commercial bill)

Loại này do người xuất khẩu lập để đòi tiền người nhập khẩu trong thanh toán hàng hóa xuất khẩu và các dịch vụ cung ứng liên quan.

Hối phiếu ngân hàng (Banker's bill)

Loại hối phiếu này do ngân hàng kí phát ra lệnh cho ngân hàng đại lí (hay ngân hàng chi nhánh) của mình trả một số tiền nhất định cho người được hưởng số tiền ghi trên hối phiếu.

5. Nội dung bắt buộc trên hối phiếu

Hối phiếu chủ yếu được dùng trong thanh toán thương mại quốc tế. Có nhiều loại hối phiếu và có thể nhận biết chúng dựa trên các tiêu thức sau:

* Căn cứ vào thời hạn trả tiền

Hối phiếu trả tiền ngay

Với loại hối phiếu này thì người trả tiền khi nhìn thấy nó bắt buộc phải trả ngay số tiền trên hối phiếu cho người thụ hưởng mà không được viện bất kì lí do gì để trì hoạn hoặc từ chối thanh toán nếu tờ hối phiếu đó được phát hành theo đúng các qui định của luật hối phiếu và không có bất kì lí do gì về đình chỉ thanh toán nó.

Hối phiếu có kì hạn

Khi hối phiếu này được xuất trình, thì người trả tiền phải kí chấp nhận trả tiền trên hối phiếu đó. Việc trả tiền được thực hiện vào một ngày được xác định trong tương lai.

* Căn cứ vào chứng từ hàng hóa đi kèm, hối phiếu này có hai loại:

Hối phiếu trơn (Clean bill of Exchange)

Hối phiếu trơn là hối phiếu được phát hành để đòi tiền người phải trả tiền không có chứng từ hàng hóa đi kèm. Nó thường hay được sử dụng để thanh toán các khoản tiền phạt, tiền bồi thường, các khoản phí như phí bảo hiểm, phí vận tải...

Hối phiếu kèm chứng từ

Loại hối phiếu này được phát hành cho người nhập khẩu (người trả tiền) có kèm theo bộ chứng từ hàng hóa. Các chứng từ này phải đi liền không được tách rời nhau. Trong thanh toán mậu dịch quốc tế bao giờ cũng sử dụng hối phiếu.

* Căn cứ vào tính chuyển nhượng, hối phiếu có các loại sau:

Hối phiếu đích danh

Hối phiếu này ghi rõ tên người thụ hưởng, không kèm theo điều khoản trả theo lệnh nên không chuyển nhượng được.

Hối phiếu vô danh

Loại này không ghi tên người thụ hưởng mà chỉ ghi cụm từ "trả cho người cầm hối phiếu". Nên ai cầm nó thì là người được hưởng các quyền lợi của hối phiếu.

Hối phiếu theo lệnh

Là loại hối phiếu trả theo lệnh của người thụ hưởng, loại này được chuyển nhượng bằng cách kí chuyển nhượng ở mặt sau của hối phiếu (gọi là kí hậu chuyển nhượng).

* Căn cứ vào chủ thể lập hối phiếu sẽ có các loại hối phiếu sau:

Hối phiếu thương mại (Commercial bill)

Loại này do người xuất khẩu lập để đòi tiền người nhập khẩu trong thanh toán hàng hóa xuất khẩu và các dịch vụ cung ứng liên quan.

Hối phiếu ngân hàng (Banker's bill)

Loại hối phiếu này do ngân hàng kí phát ra lệnh cho ngân hàng đại lí (hay ngân hàng chi nhánh) của mình trả một số tiền nhất định cho người được hưởng số tiền ghi trên hối phiếu.