1. Hối phiếu ngân hàng

Hối phiếu ngân hàng là chi phiếu, được rút bởi ngân hàng từ quỹ của chính nó được ký gửi trong một ngân hàng khác. Các ngân hàng thường sử dụng hối phiếu ngân hàng, khi việc viết chi phiếu ngân hàng thuận tiện hơn sử dụng chi phiếu khách hàng. Ví dụ, ở New York khách hàng của ngân hàng cẩn tiền trả cho ngày hôm sau, có thể yêu cầu ngân hàng viết chi phiếu được rut từ ngân hàng trung gian New York. Các ngân hàng tính phí cho dịch vụ này. Trong nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, hối phiếu thanh toán ngay hoặc hối phiếu hoạt kỳ được rút từ chính ngân hàng nước ngoài, cho phép thanh toán theo tiền địa phương với tỷ giá hối đoái hiện tại, nhằm tối thiểu hóa rủi ro ngoại hối trong việc tài trợ buôn bán xuất nhập khẩu. Ngược với CASHIER’S CHECK: Chi phiếu thủ quỹ.

Hối phiếu ngân hàng được phát hành khi có một khách hàng yêu cầu bằng một đơn thư, để thanh toán, chuyển tiền cho việc mua bán trao đổi, giữa các cá nhân trong hoạt động quốc tế.

Sau khi nhận được đơn thư yêu cầu, ngân hàng sẽ kiểm tra số dư tài khoản của khách hàng, và xét duyệt có được xác nhận phát hành hối phiếu hay không. Nếu đủ yêu cầu thì ngân hàng sẽ trừ vào tài khoản của khách hàng số tiền, mà khách hàng yêu cầu ghi trên hối phối. Ngoài ra khách hàng sẽ phải trả một khoản phí cho ngân hàng.

Thông thường, hối phiếu ngân hàng được sử dụng trong các lệnh thanh toán quốc tế. Ví dụ như, một người đàn ông thực hiện việc mua nhà tại nước ngoài. Người đàn ông này sẽ chi trả cho người bán bằng cách yêu cầu một hối phiếu ngân hàng tại ngân hàng phát hành. Sau khi được ngân hàng phát hành xác minh tài khoản, liệu rằng ông ta có đủ số tiền để giao dịch hay không. Nếu có, ngân hàng phát hành sẽ rút một số tiền và chuyển vào tài khoản chung với ngân hàng nước ngoài.

Nếu bạn là người bán, bạn chỉ cần cầm tờ hối phiếu đến ngân hàng thanh toán và yêu cầu chi trả. Số tiền sẽ ngay lập tức thanh toán mà không cần bất kì lệnh kiểm tra nào vì nó đã được rút ra từ tài khoản của người mua và có sự đảm bảo từ ngân hàng phát hành. Do đó, bạn hoàn toàn được đảm bảo về số tiền được nhận. Thông thường, các ngân hàng sẽ tính phí đối với hối phiếu ngân hàng.

2. Chuyển tiền bằng hối phiếu ngân hàng

Để chuyển tiền bằng ngoại tệ, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải mở tài khoản và duy trì số dư bằng ngoại tệ để phát hành Séc. Để chuyển tiền bằng VND, ngân hàng nước ngoài phải mở tài khoản bằng VND tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Nếu khách hàng chuyển tiền bằng ngoại tệ, thì: Ngân hàng Ngoại thương sẽ ghi nợ tài khoản khách hàng (bằng ngoại tệ hoặc VND tương đương), sau đó phát hành cho khách hàng tờ séc bằng ngoại tệ tương ứng.

Khách hàng Việt Nam sẽ dùng tờ séc này thanh toán cho người thụ hưởng nước ngoài. Người thụ hưởng xuất trình tờ séc cho ngân hàng phục vụ mình (ở nước ngoài), trên cơ sở đó, ngân hàng nước ngoài ghi Nợ tài khoản Nostro và ghi Có cho người thụ hưởng và gửi giấy báo Nợ cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

Nếu khách hàng chuyển tiền bằng VND thì: Ngân hàng Ngoại thương sẽ ghi nợ tài khoản khách hàng bằng VND, sau đó phát hành cho khách hàng tờ séc bằng VND tương ứng. Khách hàng Việt Nam dùng tờ séc này thanh toán cho người thụ hưởng ở nước ngoài.

Người thụ hưởng xuất trình tờ séc cho ngân hàng phục vụ mình (ở nước ngoài), sau đó, ngân hàng nước ngoài chuyển tờ séc đến Ngân hàng Ngoại thương để được ghi Có vào tài khoản Vostro; khi được báo Có, ngân hàng nước ngoài tiến hành ghi Có cho người thụ hưởng số tiền tương ứng.

3. Một số bất lợi khi thanh toán bằng hối phiếu ngân hàng

Thanh toán bằng hối phiếu ngân hàng là một hình thức được sử dụng nhiều trong giao dịch biên mậu và chuyển tiền giữa các cá nhân. Dù rất tiện lợi, khắc phục được các giao dịch mua bán ở xa nhưng khi thanh toán bằng hối phiếu ngân hàng vẫn tồn tại một số bất cập như sau:

  1. Người chuyển tiền phải ghi Nợ ngay tại thời điểm tờ séc được phát hành, trong khi đó việc ghi Có cho người thụ hưởng phải chờ một thời gian nhất định.
  2. Nếu người thụ hưởng không có tài khoản tài khoản tại ngân hàng trả tiền, thì việc xử lí tờ séc trở nên phức tạp.
  3. Tờ séc có thể bị thất lạc hoặc bị đánh cắp và có thể bị lợi dụng.
  4. Hầu như không thể hủy: Vì hối phiếu ngân hàng đại diện cho một giao dịch đã được thực hiện, nó không thể bị hủy bỏ sau khi có xác nhận của ngân hàng phát hành và sẽ được chuyển cho người thụ hưởng.
  5. Lừa đảo: Một nhược điểm lớn khác của hối phiếu ngân hàng là nếu nó bị mất, bị đánh cắp hoặc bị làm giả, ngân hàng thanh toán không có trách nhiệm bồi thường số tiền bị mất. Trong những trường hợp như vậy, người thụ hưởng có thể mất rất nhiều tiền. Đặc biệt là vì hối phiếu ngân hàng thường được sử dụng cho các giao dịch mua bán lớn như mua nhà hoặc mua xe.

Ngoài ra, nhà nhập khẩu khi thanh toán bằng séc ngân hàng còn chịu các bất lợi sau:

  1. Một số quốc gia áp dụng luật quản lí ngoại hối cấm sử dụng séc để chuyển tiền ra nước ngoài.
  2. Các ngân hàng áp dụng phí rất cao trong xử lí séc.
  3. Thời gian ghi Nợ và ghi Có là rất lâu.
  4. Xét từ góc độ người hưởng lợi tờ séc, không có một bảo đảm nào rằng tờ séc sẽ được thanh toán.

4. Đặc điểm của hối phiếu ngân hàng

Khác với séc cá nhân, hối phiếu ngân hàng được bảo lãnh bởi ngân hàng phát hành. Điều này có nghĩa là người nhận thanh toán được đảm bảo sự sẵn có của các khoản tiền và tránh khỏi các rủi ro thanh toán.

Theo cách đó, hối phiếu ngân hàng có các đặc điểm như sau:

  1. Tính trừu tượng: Không thể hiện quan hệ kinh tế. Trên hối phiếu không cần phải ghi quan hệ kinh tế mà chỉ cần ghi rõ các thông tin như số tiền cần thanh toán, thời gian thanh toán, người thụ hưởng là ai.
  2. Tính bắt buộc trả tiền: Khi hối phiếu đã được ngân hàng phát hành ký xác nhận thì sẽ được thanh toán bắt buộc. Trừ trường hợp hối phiếu bị hết hạn thanh toán.
  3. Tính lưu thông: Có thể chuyển nhượng từ người này sang người khác trong thời hạn thanh toán.

5. Hối phiếu đòi nợ

Nội dung của hối phiếu đòi nợ
 
1. Hối phiếu đòi nợ có các nội dung sau đây:
 
a) Cụm từ “Hối phiếu đòi nợ” được ghi trên mặt trước của hối phiếu đòi nợ;
 
b) Yêu cầu thanh toán không điều kiện một số tiền xác định;
 
c) Thời hạn thanh toán;
 
d) Địa điểm thanh toán;
 
đ) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ của người bị ký phát;
 
e) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người thụ hưởng được người ký phát chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu đòi nợ theo lệnh của người thụ hưởng hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người cầm giữ;
 
g) Địa điểm và ngày ký phát;
 
h) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ và chữ ký của người ký phát.
 
2. Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu thiếu một trong các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, trừ các trường hợp sau đây:
 
a) Thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình;
 
b) Địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán tại địa chỉ của người bị ký phát;
 
c) Địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát.
 
3. Khi số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán. Trong trường hợp số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng số và có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trị thanh toán.
 
4. Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ không có đủ chỗ để viết, hối phiếu đòi nợ đó có thể có thêm tờ phụ đính kèm. Tờ phụ đính kèm được sử dụng để ghi nội dung bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu. Người đầu tiên lập tờ phụ phải gắn liền tờ phụ với hối phiếu đòi nợ và ký tên trên chỗ giáp lai giữa tờ phụ và hối phiếu đòi nợ.
Nghĩa vụ của người ký phát
 
1. Người ký phát có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
 
2. Trường hợp người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh đã thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng sau khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán thì người ký phát có nghĩa vụ thanh toán cho người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh số tiền ghi trên hối phiếu đó.
Xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận
 
1. Người thụ hưởng phải xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận trong những trường hợp sau đây:
 
a) Người ký phát đã ghi trên hối phiếu đòi nợ là hối phiếu này phải được xuất trình để yêu cầu chấp nhận;
 
b) Hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 42 của Luật này phải xuất trình để yêu cầu chấp nhận trong thời hạn một năm kể từ ngày ký phát.
 
2. Việc xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận được coi là hợp lệ khi hối phiếu đòi nợ được người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình đúng địa điểm thanh toán, trong thời gian làm việc của người bị ký phát và chưa quá hạn thanh toán.
 
3. Hối phiếu đòi nợ có thể được xuất trình để chấp nhận dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng. Ngày xuất trình hối phiếu đòi nợ để chấp nhận trong trường hợp này được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm.
Thời hạn chấp nhận
 
Người bị ký phát thực hiện việc chấp nhận hoặc từ chối chấp nhận hối phiếu đòi nợ trong thời hạn hai ngày làm việc, kể từ ngày hối phiếu đòi nợ được xuất trình; trong trường hợp hối phiếu đòi nợ được xuất trình dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng thì thời hạn này được tính kể từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu đòi nợ.
Vi phạm nghĩa vụ xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận
 
Khi người thụ hưởng không xuất trình hối phiếu đòi nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này thì người ký phát, người chuyển nhượng và người bảo lãnh cho những người này không có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đòi nợ, trừ người bảo lãnh cho người bị ký phát.