Tuy nhiên, hợp đồng này vẫn được Phòng công chứng tiến hành công chứng, và đóng dấu giáp lai của văn phòng công chứng vào với phần lời chứng của phòng công chứng. Vậy như thế có đúng và đủ giá trị pháp lý để đăng kí tại cơ quan đăng kí đất đai và làm thủ tục vay vốn ngân hàng không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Khuê. Căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:
I. Cơ sở pháp lý
Nghị định 96/2015/NĐ_CP quy định chi tiết một số điều Luật doanh nghiệp 2014
II. Nội dung tư vấn
Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định 96/2015/NĐ_CP quy định chi tiết thi hành luật doanh nghiệp 2014 có quy định như sau:
"Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Quy định về con dấu trong Nghị định này áp dụng đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Tổ chức, đơn vị được thành lập theo các luật sau đây không áp dụng quy định về con dấu trong Nghị định này mà thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý và sử dụng con dấu:
a) Luật Công chứng;
b) Luật Luật sư;
c) Luật Giám định tư pháp;
d) Luật Kinh doanh bảo hiểm;
đ) Luật Chứng khoán;
e) Luật Hợp tác xã."
Như vậy, ngân hàng là đối tượng áp dụng quy định về con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp và nghị định 96/2015/NĐ_CP. Theo quy định tại Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về con dấu của doanh nghiệp như sau:
"Điều 44. Con dấu của doanh nghiệp
1. Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp. Nội dung con dấu phải thể hiện những thông tin sau đây:
a) Tên doanh nghiệp;
b) Mã số doanh nghiệp.
2. Trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
3. Việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty.
4. Con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."
Nghị định 96/2015/NĐ_CP quy định chi tiết về vấn đề này tại Điều 15. Theo đó, kể từ ngày 1/7/2015, doanh nghiệp có quyền tự quyết trong vấn đề sử dụng con dấu, việc sử dụng con dấu được quy định trong điều lệ công ty và con dấu được sử dụng trong trường hợp pháp luật quy định hoặc giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng con dấu. Như vậy, việc có sử dụng con dấu hay không trong giao dịch phụ thuộc vào tính chất của giao dịch đó và điều lệ của doanh nghiệp.
Mặt khác theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2005:
"Điều 124. Hình thức giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.
Điều 343. Hình thức thế chấp tài sản
Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký."
Theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Quyết định 217/QĐ_NH1 quy định về việc ban hành quy chế thế chấp, cầm cố, bão lãnh ngân hàng:
"Hợp đồng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh cần có chứng nhận của cơ quan Công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (từ đây gọi tắc là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) theo quy định:
a) Đối với những tài sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu nhất thiết phải có công chứng hợp đồng.
b) Đối với những tài sản mà pháp luật không quy định đăng ký quyền sở hữu nhưng tổng giá trị tài sản ghi trên hợp đồng từ 50 triệu đồng (năm mươi triệu) trở lên nhất thiết phải công chứng; nếu dưới 50 triệu đồng thì việc công chứng hay không trên hợp đồng thế chấp, cầm cố là do 2 bên nhận thế chấp, cầm cố và bên thế chấp, cầm cố thoả thuận."
Như vậy, đối với hợp đồng thế chấp tài sản kí với ngân hàng, không có quy định nào bắt buộc phải có con dấu giáp lai của ngân hàng. Việc không có con dấu này không làm cho hợp đồng vô hiệu. Theo như thông tin mà bạn cung cấp, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nếu đã được lập thành văn bản, có chữ kí của người đại diện ngân hàng, được công chứng tại văn phòng công chứng và đăng kí với cơ quan nhà nước có thẩm quyển về đăng kí đất đai thì có thể tiến hành thủ tục vay vốn ngân hàng bình thường.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ