1. Khuynh hướng giới tính là gì?

Định hướng giới tính chính là sự hấp dẫn về tình cảm, cảm xúc lãng mạn hoặc tình dục mà một người cảm thấy đối với người khác. Có một số loại khuynh hướng về giới tính khác nhau chia làm 3 nhóm chính bao gồm:

  • Tình dục khác giới: Những người thuộc xu hướng giới tính này bị cuốn hút cả về mặt tình cảm lẫn thể chất bởi những người thuộc giới tính khác, cụ thể: Nam giới bị hấp dẫn bởi nữ giới và ngược lại. Xu hướng tình dục này đôi khi được gọi là “straight” (thẳng).
  • Đồng tính hay đồng tính luyến ái: là thuật ngữ mô tả những người bị thu hút bởi những người cùng giới. Có hai loại đồng tính luyến ái là đồng tính nam (Gay) và đồng tính nữ (Lesbian). Đôi khi người ta còn dùng từ “gay” để chỉ các cá nhân đồng tính luyến ái thuộc một trong hai giới.
  • Lưỡng tính (bisexual): Những người lưỡng tính bị những người thuộc cả hai giới tính thu hút cả về mặt tình cảm lãng mạn và thể xác.

Riêng với trường hợp người không cảm nhận được bất kỳ sự hấp dẫn giới tính, cũng như không có nhu cầu quan hệ tình dục với bất kỳ ai thuộc cả hai giới thì được xếp vào nhóm vô tính (asexual). Những người này có thể không quan tâm đến nhu cầu giải tỏa sinh lý cá nhân, nhưng bản thân vẫn có thể có cảm xúc nhất định với những người khác.

Bước vào tuổi dậy thì, đôi khi chúng ta lại phát hiện ra mình có những suy nghĩ về tình dục, cũng như bị hấp dẫn bởi một đối tượng nào đấy. Thậm chí, ở một vài người, những xúc cảm và suy nghĩ ấy mãnh liệt đến mức trở nên khó hiểu. Tình trạng này đặc biệt đúng với những người có tư tưởng lãng mạn hay ý nghĩ tình dục về một người nào đó cùng giới với họ. Đôi lúc họ sẽ nghĩ rằng: “Những cảm xúc này có nghĩa là gì nhỉ? Mình đồng tính sao?”

Việc cảm thấy yêu thích một người cùng giới không đồng nghĩa với chuyện bạn là người đồng tính, hay cũng giống như không hẳn chỉ cần yêu thích một người khác giới thì người đó được gán mác là “thẳng”. Với lứa tuổi teen, việc cảm thấy bị hấp dẫn bởi ai đó hoặc có những suy nghĩ tình dục về người cùng giới và khác giới là điều hết sức bình thường. Đấy chỉ là một cách mà suy nghĩ của bạn “lọc” qua những mớ hỗn độn về cảm xúc giới tính mà thôi.

Một số người có thể đi xa hơn giới hạn, thay vì theo bản ngả giới tính của mình thì họ lại chọn cách trải nghiệm những điều mới lạ như quan hệ với những người cùng hoặc khác giới. Tuy nhiên, lựa chọn này hoàn toàn xuất phát từ chủ đích của bản thân và không nói lên được người đó đồng tính hay dị tính.

2. Khái niệm về kết hôn

Theo khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn được Luật hôn nhân và gia đình quy định và phải đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền thì việc kết hôn đó mới được công nhận là hợp pháp và giữa các bên nam nữ mới phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Theo đó điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn được pháp luật quy định như sau:

Đăng ký kết hôn là thủ tục pháp lý, là cơ sở để luật pháp bảo vệ quyền lợi và sự ràng buộc về nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân. Giấy đăng ký kết hôn là một loại giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để xác nhận về tình trạng hôn nhân của một cá nhân. 

Việc đăng ký kết hôn là cơ sở để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người, trong trường hợp xảy ra tranh chấp về tài sản sẽ được pháp luật bảo vệ theo quy định.

3. Pháp luật Việt Nam hiện nay về kết hôn đồng giới?

Trước đây, một trong những trường hợp cấm kết hôn nêu tại Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là việc kết hôn giữa những người có cùng giới tính.

Đồng thời, theo điểm e khoản 1 Điều 8 Nghị định 87/2001/NĐ-CP (đã hết hiệu lực), việc kết hôn giữa những người cùng giới tính sẽ bị phạt tiền từ 100.000 - 500.000 đồng.

Tuy nhiên, đến Nghị định 82/2020/NĐ-CP hiện đang có hiệu lực, những người đồng giới kết hôn với nhau không còn bị phạt. Quy định này nhằm đồng bộ việc “không thừa nhận mà không còn cấm” tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Theo đó, từ ngày 19/6/2014, Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định về việc kết hôn giữa những người có cùng giới tính được nêu tại khoản 2 Điều 8 Luật này như sau:

Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Không chỉ vậy, khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình giải thích:

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

Như vậy, so với quy định trước đây, hiện nay, Nhà nước không còn cấm những người có cùng giới tính kết hôn mà chỉ “không thừa nhận” mối quan hệ hôn nhân này. Đồng nghĩa, những người đồng tính có thể tổ chức đám cưới, sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không được thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Khi đó, hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sẽ không tồn tại và không được pháp luật thừa nhận nên không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng; cấp dưỡng; thừa kế; tài sản chung vợ chồng…

- Về nhân thân: Giữa hai người đồng tính không có ràng buộc về mặt pháp lý, không được cấp đăng ký kết hôn, không được công nhận là vợ, chồng hợp pháp. Bởi vậy, con cái, cấp dưỡng, quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng… không tồn tại;

- Về quan hệ tài sản: Vì không có quan hệ vợ chồng nên không áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng được quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nếu phát sinh tranh chấp, tài sản không được chia theo nguyên tắc chung về tài sản chung vợ, chồng.

4. Hôn nhân đồng tính: Ủng hộ hay không ủng hộ?

Có nhiều ý kiến thảo luận theo khuynh hướng mong muốn xã hội cần cảm thông và thừa nhận hiện tượng này. Và cũng không phải không có dấu hiệu cho thấy sự cảm thông đang bị đẩy thành một trào lưu ủng hộ, nhất là trong giới trẻ, như thể càng tích cực ủng hộ thì càng thể hiện quan điểm tiến bộ, hợp thời.

Nhưng có lẽ, trước khi bày tỏ thái độ về một vấn đề xã hội đã tạo ra nhiều tranh luận không chỉ ở Việt Nam, chúng ta cần có những đề tài thảo luận sâu hơn. Điều rõ ràng là hiện vẫn có nhiều nước phương Tây tiên tiến chưa công nhận hiện tượng đồng tính dù các phong trào đòi quyền bình đẳng cho người đồng tính đã phát triển mạnh. Ở đây, chỉ xin đề cập vấn đề này dưới góc độ con cái của các cặp đồng tính.

Con số thống kê do P.Krémer công bố trên tờ Le Monde (Pháp) từ gần mười năm trước cho biết ở Pháp có khoảng 50% số người đồng tính đang sống cặp đôi với nhau, 10% đang có con cái và 40-50% số người đồng tính muốn được làm cha mẹ. Như vậy, hiện tượng cặp đôi đồng tính đã tạo ra một mô hình gia đình mới mà cha mẹ là người đồng giới (homoparental) và con cái không phải là người có quan hệ máu mủ với cha mẹ (do các cặp vợ chồng đồng tính không thể sinh con từ hành vi tình dục đồng tính của mình). Và đây là một vấn đề xã hội cần xem xét.

Hệ quả trước hết là những đứa trẻ sống với những bậc cha mẹ đồng tính sẽ không có sự phát triển bình thường về tâm lý lẫn xu hướng tình dục của mình như những đứa trẻ sống với cha mẹ là những người dị tính. Đứa trẻ sống trong gia đình có cha mẹ dị tính sẽ có được hai hệ quy chiếu để học hỏi cả về tâm lý lẫn thiên hướng tính dục “nam” (từ người cha) và “nữ” (từ người mẹ). Thế nhưng với những đứa trẻ có cha mẹ đồng tính thì các em không hề có được sự quy chiếu mang tính quân bình như thế, bởi chúng đang sống với hai bà mẹ hoặc hai ông bố, và vì vậy, sự phát triển về tâm lý lẫn nhân cách của các em có nguy cơ bị lệch.

Bên cạnh đó, trong những xã hội mà đa số người dân chưa muốn nhìn nhận hôn nhân đồng tính, các gia đình kiểu này thường phải sống trong sự co rút, hoặc bí mật, và do đó, những đứa con của họ phải đối diện với nhiều trở ngại khi hội nhập vào xã hội. Chẳng hạn, việc những đứa trẻ đó sẽ phải “thông tin” như thế nào với bạn bè về cha mẹ của chúng, và nguy cơ các em sẽ gặp phải những chấn thương tâm lý khi phải đối diện với vô vàn những tình huống kiểu như thế trong quá trình sống, học tập và giao tiếp xã hội.

Ở Việt Nam chúng ta cho đến nay vẫn chưa có thống kê hay khảo cứu nào về giới đồng tính cả về mặt y học, văn hóa, kinh tế, tâm lý xã hội. Thiết nghĩ, việc tỏ thái độ ủng hộ hay phản đối lúc này đều là vội vàng.

5. Có được kết hôn với người đã chuyển giới không?

Theo Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và Luật khác có liên quan.

Căn cứ quy định này, sau khi chuyển đổi giới tính, cá nhân phải đăng ký thay đổi hộ tịch. Sau đó, người này sẽ có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi. Một trong số các quyền nhân thân là quyền đăng ký kết hôn.

Như vậy, sau khi chuyển giới, đăng ký thay đổi hộ tịch thì người chuyển giới được quyền đăng ký kết hôn với người khác giới tính đã chuyển và quan hệ hôn nhân này sẽ được pháp luật công nhận.

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN - LÊ MINH TIẾN – Giảng viên xã hội học, Đại học Mở TPHCM

Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

-------------------------------------

Trên đây là bài viết được đội ngũ các luật sư, chuyên viên pháp lý của công ty Luật Minh Khuê sưu tầm và biên tập. Chúng tôi hy vọng rằng, bài viết trên sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Quý khách có thể tham khảo một số dịch vụ luật sư trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của chúng tôi:

- Tư vấn pháp luật trực tuyến thủ tục khởi kiện vụ án Hôn nhân và gia đình;

- Luật sư tư vấn trực tuyến các quy định của pháp luật về Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân;

- Dịch vụ luật sư tham gia tố tụng trong vụ án Hôn nhân và gia đình;

- Dịch vụ luật sư đại diện tranh tụng trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình;

- Luật sư tư vấn xử lý hành vi ngoại tình, vi phạm chế độ một vợ một chồng;

- Luật sư tư vấn thủ tục nhận con ngoài giá thú - Quyền lợi của con ngoài giá thú?;

- Luật sư tư vấn xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết ly hôn qua điện thoại;

- Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến đăng ký kết hôn, thủ tục đăng ký kết hôn mới nhất;

- Luật sư tư vấn pháp luật về phân chia tài sản và nuôi con khi ly hôn;

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email có tính phí: [email protected] hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 hoặc tới trực tiếp tại địa chỉ: Phòng 2007, Tầng 20, Tòa nhà C2, Vincom Trần Duy Hưng, Đường Trần Duy Hưng, Trung Hòa, Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Rất mong nhận được hợp tác của khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê