1. Hợp đồng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội

Căn cứ dựa theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị định 20/2012/NĐ-CP có quy định cụ thể về hồ sơ tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội đối với đối tượng tự nguyện. Theo đó thì hồ sơ sẽ bao gồm có:

- Hợp đồng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội theo Mẫu số 08 ban hành kèm theo Nghị định20/2012/NĐ-CP 

 - Bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của đối tượng.

Theo đó thì hợp đồng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội là giấy tờ cần thiết với đối tượng tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội một cách tự nguyện. 

Như vậy thì hợp đồng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội đối với đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội được quy định cụ thể tại mẫu số 08 ban hành kèm theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP 

Các bạn có thể tải mẫu hợp đồng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội với đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP 

Hoặc tải nhanh mẫu >>>>>>TẠI ĐÂY

 

2. Những đối tượng nào là đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội

Căn cứ dựa theo quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 24 Nghị định 20/2021/NĐ-CP có quy định cụ thể về các đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội như sau:

Đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội bao gồm:

- Người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc. Tức là những người cao tuổi mà có mong muốn sống tại cơ sở trợ giúp xã hội thì cần kèm theo một hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc theo quy định của pháp luật. 

- Người không thuộc diện như là đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp, đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hay là những người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động. Mà không có điều kiện sống tại gia đình, có nhu cầu vào sống tại cơ sở trợ giúp xã hội.

Theo đó thì các đối tượng trên thuộc vào những đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật đưa ra. Bao gồm như sau:

Người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc: Những người già có ý muốn và khả năng thực hiện hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc để sống tại cơ sở trợ giúp xã hội. Có thể là những người cần sự chăm sóc đặc biệt và hỗ trợ trong cuộc sống hàng ngày.

Người không có điều kiện sống tại gia đình, có nhu cầu vào sống tại cơ sở trợ giúp xã hội: Những người không có điều kiện sống tại gia đình, có thể do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc không an toàn. Có nhu cầu cần sự hỗ trợ và chăm sóc từ cơ sở trợ giúp xã hội.

Trong trường hợp này, trừ các đối tượng sau:

+ Đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Các trường hợp có hoàn cảnh quá khó khăn có thể yêu cầu sự chăm sóc và hỗ trợ tập trung hơn.

+ Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp: Những trường hợp cần được bảo vệ ngay lập tức do nguy cơ nguy hiểm hoặc lạc quan.

+ Người chưa thành niên, người không còn khả năng lao động: Trong trường hợp người chưa thành niên hoặc người không còn khả năng lao động, có thể cần những dạng hỗ trợ và chăm sóc khác phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của họ.

Những quy định này giúp xác định rõ ràng đối tượng mục tiêu của cơ sở trợ giúp xã hội và đảm bảo rằng nguồn lực và chăm sóc được ưu tiên cho những trường hợp cần thiết nhất.

 

3. Thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ vào cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định pháp luật

Căn cứ dựa theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 20/2021/NĐ-CP có quy định cụ thể về thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ vào cơ sở trợ giúp xã hội . Cụ thể như sau:

Thẩm quyền tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội: Người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội quyết định tiếp nhận đối tượng vào cơ sở. Đối với cơ sở trợ giúp xã hội do cấp huyện quản lý thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đưa đối tượng vào cơ sở.

Người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội: Thường là người có chức vụ cao trong tổ chức, có thể là giám đốc hoặc người quản lý cơ sở. Có trách nhiệm quyết định việc tiếp nhận đối tượng vào cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định và quy trình nội bộ của tổ chức. Chịu trách nhiệm về quyết định việc tiếp nhận đối tượng vào cơ sở trợ giúp xã hội. Dựa vào quy định của pháp luật và quy trình nội bộ để đảm bảo quyết định lành mạnh và công bằng. Phải đảm bảo rằng quyết định tiếp nhận đối tượng phản ánh chính sách và mục tiêu của tổ chức. Có thể tham gia vào việc đề xuất và thiết lập các chính sách mới liên quan đến việc tiếp nhận đối tượng.

Chủ Tịch Ủy Ban Nhân dân cấp huyện: Trong trường hợp cơ sở trợ giúp xã hội thuộc quản lý của cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thường có vai trò quan trọng trong quyết định tiếp nhận đối tượng. Có thể tham gia vào quá trình xác định đối tượng nào cần được tiếp nhận và có thể yêu cầu thông tin và báo cáo từ cơ sở trợ giúp xã hội. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện thường tham gia vào quá trình đề xuất và đánh giá chính sách, chiến lược liên quan đến việc tiếp nhận đối tượng vào cơ sở trợ giúp xã hội. Đảm bảo rằng quyết định này đồng bộ với mục tiêu và hướng dẫn tổng thể của cấp huyện.  Hỗ trợ trong việc đặt ra và xác định rõ ràng các tiêu chuẩn và quy trình cho quá trình tiếp nhận đối tượng. Đảm bảo rằng cơ sở trợ giúp xã hội tuân thủ các quy định và chuẩn mực được đề ra. Có thể tham gia vào quá trình xác định đối tượng cần được tiếp nhận, đặc biệt là đối tượng có nhu cầu đặc biệt hoặc ảnh hưởng đến cộng đồng.  Có thể yêu cầu thông tin và báo cáo từ cơ sở trợ giúp xã hội để đảm bảo rằng quá trình tiếp nhận diễn ra theo quy định và có hiệu suất cao. Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch và đánh giá hiệu quả của các hoạt động tiếp nhận.

 

4. Những trường hợp nào không được tiếp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi, người khuyết tật?

Căn cứ dựa theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP có quy định cụ thể về những trường hợp không được tiếp nhận chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi, người khuyết tật. Cụ thể như sau:

- Có hành vi đối xử tệ bạc đối với người cao tuổi, người khuyết tật: Nếu có bất kỳ hành vi đối xử tệ bạc nào, đặc biệt là những hành vi khiến người cao tuổi hoặc người khuyết tật cảm thấy bị phân biệt hoặc xâm hại, đây có thể là một lý do không tiếp tục nhận chăm sóc.

- Lợi dụng việc nhận việc chăm sóc, nuôi dưỡng để trục lợi: Nếu có bằng chứng hoặc nghi ngờ về việc lợi dụng tình trạng chăm sóc và nuôi dưỡng để đạt lợi ích cá nhân hoặc tài chính, điều này có thể là một lý do chấm dứt việc nhận chăm sóc.

- Có tình trạng kinh tế hoặc lý do khác dẫn đến không còn bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi, người khuyết tật: Nếu cơ sở không còn khả năng kinh tế hoặc lý do khác để duy trì việc chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi hoặc người khuyết tật, điều này có thể dẫn đến quyết định không tiếp tục chăm sóc.

- Vi phạm nghiêm trọng quyền của người được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng: Nếu có bằng chứng về việc vi phạm nghiêm trọng quyền của người được nhận chăm sóc và nuôi dưỡng, chẳng hạn như xâm phạm quyền tự do, an toàn, hoặc quyền khác, điều này có thể là lý do để dừng việc nhận chăm sóc.

Quyết định dừng việc nhận chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi, người khuyết tật là một quyết định nghiêm túc và đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo quyền lợi và phúc lợi của người được nhận chăm sóc được đảm bảo.

Vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn

Tham khảo thêm: Đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội