Trả lời:

1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại

Xuất phát từ bản chất kinh tế cũng như bản chất pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về hợp đồng loại này như sau: Hợp đồng nhượng quyền thương mại là sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Đây cũng chính là cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng.

Thực chất, cũng như tất cả các loại hợp đồng khác, hợp đồng nhượng quyền thương mại có chung bản chất là sự đồng thuận giữa các chủ thể của hợp đồng. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận rằng, dưới mỗi tên gọi khác nhau, mỗi một loại hợp đồng đều có một đặc thù nhất định, đặc thù này giúp các chủ thể kinh doanh xác định những nội dung chủ yếu của hợp đồng.

Hiệp ước Cộng đồng chung châu Âu đưa ra một khái niệm về hợp đồng nhượng quyền thương mại, theo đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng được khai thác một “quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định. Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến:

+ Việc sử dụng tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung;

+ Việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền;

+ Việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kĩ thuật trong suốt thời gian hợp đồng nhượng quyền thương mại còn hiệu lực.

Như vậy, hợp đồng nhượng quyền thương mại là một loại hợp đồng chứa đựng đặc điểm của nhiều loại hợp đồng khác nhau. Rõ ràng, hợp đồng nhượng quyền thương mại chứa đựng những yếu tố của hợp đồng li-xăng, đó là sự hướng tới việc sử dụng một số đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp. Bên cạnh đó, hợp đồng loại này còn có những điểm tương đồng với hợp đồng chuyển giao công nghệ, khi trong nội dung của hợp đồng luôn xác định rõ việc bên nhượng quyền phải chuyển giao, cung cấp, hướng dẫn cho bên nhận quyền các công nghệ đi kèm và các tài liệu hướng dẫn vận hành công nghệ đó. Không những thế, bóng dáng của các hợp đồng cung ứng, hợp đồng đại lý phân phối cũng hiện hữu trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

2. Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Hiệp hội Nhượng quyền thương mại của Cộng hoà liên bang Đức đã đưa ra khái niệm chính thức về hoạt động nhượng quyền thương mại, nhưng pháp luật thương mại của nước này lại không đề cập khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại với tư cách là một loại hợp đồng đặc thù. Theo quy định của pháp luật Đức, hợp đồng nhượng quyền thương mại chỉ là loại hợp đồng hợp tác để phân phối sản phẩm mà thôi. Mặc dù vậy, do được nhìn nhận là một loại thỏa thuận theo chiều dọc giữa các tác nhân kinh tế (giữa nhà sản xuất và người bán lẻ), hợp đồng nhượng quyền thương mại lại trở thành một đối tượng xem xét của pháp luật cạnh tranh. Đối với nước Đức, hợp đồng nhượng quyền thương mại chỉ được nhận biết thông qua sự so sánh chúng với các hợp đồng phân phối hàng hoá, dịch vụ với các đặc tính:

Một là, trong hợp đồng nhượng quyền, quan hệ cung ứng hàng hoá, dịch vụ rtừ phía bên nhượng quyền cho bên nhận quyền không nhất thiết phải tồn tại, với lý do bên nhận quyền có thể tự mình sản xuất ra sản phẩm;

Hai là, bên nhượng quyền trao toàn bộ “quyền thương mại” dưới một thể thống nhất cho bên nhận quyền;

Ba là, bên nhận quyền vẫn có tên thương mại của mình dưới góc độ pháp luật, mặc dù địch vụ hoặc hàng hoá, bên này cung cấp trên thị trường lại không mang tên thương mại đã đăng ký với nhà nước.

Tương tự như nước Đức, Cộng hoà Pháp không ban hành một luật riêng cho hoạt động nhượng quyền thương mại. Ở đây, các án lệ, các quy định của Hiệp hội Nhượng quyền thương mại Pháp được coi là luật lệ chính điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.

Như vậy, theo pháp luật của một số quốc gia như Đức, Pháp, hợp đồng nhượng quyền thương mại là một tập hợp các thỏa thuận của các bên chủ thể, trong đó các bên phải đề cập đến ít nhất một số vấn đề chủ yếu liên quan:

Một là, sự chuyển giao các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ từ bên nhượng quyền sang bên nhận quyền nhằm khai thác thu lợi nhuận;

Hai là, sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng;

Ba là, nghĩa vụ tài chính cũng như các nghĩa vụ đối ứng khác của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền. Với khái niệm này, hợp đồng nhượng quyền thương mại đã thể hiện được đúng bản chất pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại, giúp cho công chúng dễ dàng phân biệt được loại hợp đồng thương mại đặc biệt này với một số loại hợp đồng khác có cùng một hoặc một số tính chất nhất định.

Đối với Việt Nam, pháp luật thương mại không đưa ra một định nghĩa nào về hợp đồng nhượng quyền thương mại. Điều 285 Luật Thương mại năm 2005 với tiêu đề “hợp đồng nhượng quyền thương mại” chỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này. Như vậy, có thể hiểu, trên phương diện pháp luật, hợp đồng nhượng quyền thương mại là loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, cụ thể là thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại, vì vậy, hợp đồng này phải có những đặc điểm chung của hợp đồng được quy định của bộ luật dân sự. Hợp đồng nhượng quyền thương mại, do vậy, phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật dân sự đặt ra đối với một giao dịch dân sự. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng quát, hợp đồng nhượng quyền thương mại chính là thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại. Về cơ bản, hợp đồng nhượng quyền thương mại thể hiện bản chất của giao dịch nhượng quyền thương mại đã được định nghĩa tại Luật Thương mại năm 2005.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)