1. Đối tượng áp dụng quy định tăng trần chi phí lãi vay

Tăng trần chi phí lãi vay được trừ lên 30% áp dụng với các khoản vay của người nộp thuế, trừ những trường hợp sau:

- Người nộp thuế là tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng.

- Người nộp thuế là tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo Luật Kinh doanh bảo hiểm;

- Các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại;

- Các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững);

- Các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên và dự án phúc lợi công cộng khác).

2. Nghị định 68/2020/NĐ-CP: Tăng trần chi phí lãi vay được trừ lên 30%

Ngày 24/6/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 20/2017/NĐ-CP, nâng ngưỡng khống chế chi phí lãi vay lên 30%. Tổng chi phí lãi vay (sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) phát sinh trong kỳ được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ.

Theo Nghị định 68/2020/NĐ-CP thì tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết như sau:

- Tăng trần chi phí lãi vay được trừ lên 30%. 30% này được xác định trên tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay (sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ. (Trong khi đó quy định cũ tại Nghị định 20/2017/NĐ-CP là 20%)

- Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định trên được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức trần 30%. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.

Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại nêu trên được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định.

Phần chi phí lãi vay không được trừ được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp, tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định tại nghị định này. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.

Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.

Đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết thì tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế.

Quy định khống chế chi phí lãi vay trong chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ hạn chế doanh nghiệp vay gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu, qua đó góp phần chống chuyển giá thông qua hình thức vay vốn giữa các bên liên kết, hạn chế thất thu ngân sách nhà nước.

3. Ảnh hưởng của khống chế chi phí lãi vay đến báo cáo tài chính

Vốn là một trong những nguồn lực cần thiết và quan trọng của doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, bên cạnh những thách thức thì cơ hội cũng mở ra nhiều triển vọng phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên muốn nắm bắt những cơ hội này doanh nghiệp rất cần có vốn và do nguồn vốn có hạn của mình các doanh nghiệp thường đi vay để bổ sung vốn kinh doanh. Ở các công ty quy mô siêu nhỏ (10 người lao động trở xuống) chi phí đi vay khi phát sinh chủ yếu ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ vì hầu như các chi phí đi vay không liên quan trực tiếp đến đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được vốn hóa. Ngoài ra tùy vào lãi vay trả định kỳ hay trả sau của hợp đồng vay vốn mà chi phí đi vay được hạch toán khác nhau do đó ảnh hưởng đến báo cáo tài chính khác nhau. 

Chi phí lãi vay là lãi và chi phí cho vay liên quan trực tiếp đến khoản vay kinh doanh. Muốn chi phí lãi vay được tính là chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN thì khoản vay đó phải phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Mục đích của khoản vay được thể hiện trên hợp đồng vay vốn và phương án vay vốn. Ngoài ra, khoản chi phí lãi vay được tính chí phí hợp lý trong trường hợp DN thực hiện góp đủ vốn theo tiến độ góp vốn của DN.

Trường hợp, vốn góp còn thiếu so với tiến độ góp vốn thì phần chi phí lãi vay sẽ không được trừ tương ứng với phần vốn thiếu. Chi phí lãi vay không hợp lý là những chi phí không được trừ khi tính thuế thu nhập DN hay lãi suất vay của DN vượt quá mức 150% so với lãi suất cơ bản thì khoản lãi vay vượt quá đó sẽ không được tính vào chi phí hợp lý cho DN.

Theo Luật Thuế TNDN, DN được trừ mọi khoản chi phí thực tế phát sinh cho hoạt động sản xuất kinh doanh nếu có đầy đủ hồ sơ, chứng từ. Việc khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định số 20/2017/NĐ-CP không được quy định trong Luật Thuế TNDN cũng khiến các DN gặp khó khăn trong việc áp dụng, bởi Luật Thuế TNDN là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Việc khống chế chi phí lãi vay sẽ làm chi phí lãi vay của DN giảm, dẫn đến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng. Điều này làm cho chi phí thuế TNDN tăng, thúc đẩy nghĩa vụ nộp thuế của DN; Làm cho DN phát sinh tăng lợi nhuận ảo, dẫn đến số thuế điều chỉnh tăng và phải nộp theo lợi nhuận ảo. Do đó, nếu áp dụng quy định giới hạn chi phí lãi vay như trên cho thời gian mới đi vào hoạt động thì DN có khả năng bị loại phần lớn hay toàn bộ chi phí lãi vay khỏi chi phí được trừ, làm tăng thuế phải nộp một cách bất hợp lý.

Tuy nhiên, việc khống chế chi phí lãi vay tác động đến một số mô hình hoạt động đặc thù, ví dụ như tập đoàn trong nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con, hoặc DN hoạt động trong các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn. Mô hình công ty mẹ - con, trong đó công ty mẹ chuyên thực hiện chức năng quản lý vốn tập trung của tập đoàn đang phổ biến.

Việc khống chế tổng chi phí lãi vay tạo rào cản trong việc cho vay nội bộ trong tập đoàn và cơ hội đầu tư dài hạn vào các ngành nghề cần vốn lớn, làm phát sinh thêm chi phí do phải nộp thuế trùng đối với một giao dịch kinh doanh.

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Cách tính chi phí lãi vay được trừ trong giao dịch liên kết? của Luật Minh Khuê.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nghị định 68/2020/NĐ-CP: Tăng trần chi phí lãi vay được trừ lên 30% mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!