1. Giải đáp vướng mắc khi vợ chồng ly hôn ?

Chào Công ty Luật Minh Khuê, xin hỏi: Tôi có một vài vấn đề mong được giúp đỡ. Mong ban luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi và chồng tôi có với nhau 1 đứa con 22 tháng tuổi. Chúng tôi kinh doanh internet... vì 2 quan điểm làm việc khác nhau. Tối thì muốn sổ sách phải ghi rõ ràng, chia nhỏ khoảng thời gian trong ngày để chốt số tiền tránh trường hợp thiếu tiền do chưa thu tiền của khách ( để dễ kiểm soát) trong khi đó anh ta thì làm việc theo kiểu thuộc lòng không ghi chép, tiền thu thì thiếu trước hụt sau và mâu thuẫn xảy ra. Mỗi ngày 1 ít, lâu dần thành 1 khoảng cách lớn cả 2 không có sự tôn trọng lẫn nhau. Tôi cố gắng duy trì cuộc hôn nhân là vì khoảng nợ chúng tôi vay mượn để kinh doanh chưa trả hết và quan trọng nhất là lo sợ cho tương lai của con nên không thể ly hôn.
Nhưng bây giờ thì khác, anh ta đe dọa sẽ giết tôi ( chúng tôi đã có nhà riêng và đang sống cùng với con nhỏ, đất ở thì cha mẹ tôi cho rồi chúng tôi chạy tiền để xây nhà). Mỗi lần nhậu say về anh ta lấy dao thái lan chỉ vào mặt tôi dọa sẽ đâm tôi và sau đó để trên đầu giường ngủ. Mới đây, đi nhậu say về anh ta nói với tôi và mọi người xung quanh rằng: " Tối nay tôi sẽ giết nó rồi mang con về bên nội để ba mẹ nuôi". Anh ta liên tục đe dọa tôi. Như vậy, xin hỏi ban luật sư tôi nên làm gì để:
1. Bảo vệ chính mình ?
2. Nếu ly hôn thì con, phần nợ và nhà ở của chúng tôi sẽ giải quyết như thế nào? 3. Giành quyền nuôi dưỡng con trai 22 tháng tuổi cho gia đình tôi nếu có điều không hay xảy ra với tôi?
Tôi xin thành thật cảm ơn ban luật sư-Công ty Luật Minh Khuê !!!

Khi ly hôn có bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất: Về việc chồng bạn đe dọa giết bạn.

Tại Điều 103 Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định về tội “đe dọa giết người”. Theo đó, “ Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì khi chồng bạn say xỉn đều dọa giết bạn. Trong trường hợp này chúng tôi chưa thể xác định được việc đe dọa giết bạn có được thực hiện thật không hay chỉ là đe dọa. Có lẽ cũng chưa đến mức nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu người chồng đe dọa nhiều lần, chúng tôi nghĩ chị cũng có thể và nên làm đơn tố cáo gửi tới công an xã để có biện pháp ngăn chặn, nhắc nhở. Tránh hậu quả xấu có thể xảy ra.

Thứ hai: Nếu ly hôn thì con, phần nợ và nhà ở của bạn sẽ giải quyết như thế nào?

Về phần nợ:

Theo quy định tại điều 60 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì khi ly hôn vợ, chồng có tranh chấp về nghĩa vụ của tài sản đối với người thứ 3 thì sẽ áp dụng quy định tại điều 27, 37 và 30 luật này:

Theo quy định tại điều 27 Luật HN&GĐ về trách nhiệm liên đới của vợ chồng:

"Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này".

Theo quy định tại điều 37 luật HN&GĐ về nghĩa vụ chung của vợ chồng thì các nghĩa vụ sau đây sẽ dùng tài sản chung của cả hai để giải quyết:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;....".

Trong trường hợp này, bạn và chồng bạn vay tiền chung để kinh doanh (nghĩa là có sự thỏa thuận giữa 2 vợ chồng về việc vay nợ và sử dụng số tiền này) và việc vay tiền của chồng bạn là quan hệ đại diện giữa vợ và chồng theo quy định tại điều 24, 25, 26 Luật HN&GĐ2014 nên tài sản chung của vợ chồng sẽ được dùng để thực hiện nghĩa vụ đối với người thứ theo quy định tại điều này và khi ly hôn bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ riêng của chồng bạn.

Ngoài ra, theo quy định tại điều 30 Luật HNGĐ nếu việc vay tiền của chồng bạn để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo nhận định của cơ quan Tòa án thì bạn cũng sẽ chịu trách nhiệm liên đới đới với khoản nợ này:

"Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình".


Nếu tài sản vay nợ đó không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bạn không phải chịu trách nhiệm với số tiền này.

Tuy nhiên, trong quá trình tranh chấp xảy ra tại Tòa án và nếu như chồng bạn chứng minh được rằng đã có thỏa thuận với bạn về việc vay tiền và bạn có liên quan tới việc sử dụng số tiền này để làm ăn thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ liên đới với chồng.

Về con :

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để nuôi mình. Tuy nhiên người trực tiếp nuôi dưỡng con do vợ chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi. Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì con bạn đến nay mới 22 tháng tuổi. Vì vậy, nếu bạn muốn giành quyền nuôi con thì bạn phải chứng minh với tòa án về điều kiện nuôi con của bạn.

Về nhà ở:

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

Còn trong trường hợp nếu nhà ở trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định; nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

2. Tư vấn về nguyên tắc phân chia tài sản sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư: tôi có câu hỏi cần giải đáp như sau Con trai có được chia tài sản của nhà nội từ phần của chồng tôi khi tôi ly hôn không ? Tôi sinh 1982. Khi cưới tôi về làm dâu thì cha mẹ chồng đã phân chia con cái trong nhà mỗi người một phòng. Chồng tôi cũng có một phòng, vợ chồng tôi không chung gì với gia đình ngoài cổng vào và nhà xe tầng trệt.
Thời gian chung sống, vợ chồng tôi luôn bất hòa và tôi dọn ra ngoài ở thuê. Khi ba mẹ chồng tôi mất, tôi vẫn về làm trọn phận dâu. Khi tôi dọn đi, con trai tôi mới có 6 tuổi. Vì còn đang đi học, chưa công việc ổn định, tôi không đủ điều kiện chăm con nên để con cho chồng tôi chăm nuôi. Giờ tôi đã đi làm, có thu nhập nhưng cũng đủ chi tiêu cho mỗi bản thân tôi thôi. Ba mẹ chồng thì đã mất, anh em trong gia đình chồng tôi tính bán nhà chia nhau. Tôi chưa ly hôn. Sau hơn 3 năm ly thân, lúc đầu chồng tôi chăm con tương đối tốt. Nhưng thời gian gần tết 2016, tôi thấy con sa sút từ thể chất đến tâm trạng. Tìm hiểu thì em chồng tôi cho hay, chồng tôi đang tìm hiểu cô gái khác và xao lãng chuyện chăm con. Tôi đưa con về chăm nhưng kinh tế thì không đủ.
Nếu chưa ly hôn, khi bán nhà nội, con trai tôi theo luật thì có được chia tài sản từ phần của chồng tôi không? Và đã ly hôn thì cũng có được chia hay không? Anh mang kinh tế lo cho mẹ con người phụ nữ mới mà không lo cho con trai của anh và tôi. Tôi lo con trai tôi bị mất quyền lợi nên nhờ tư vấn. Em chồng tôi bắt tôi phải quay về ở nhà chồng, ở ngay căn phòng ban đầu khi bố mẹ chồng cưới tôi về. Vì tôi là dâu được cưới hỏi có giấy kết hôn và chưa ly hôn. Ở đây, tôi chỉ muốn hỏi quyền lợi của con trai tôi thôi, chứ không liên quan gì tôi cả.
Tôi chân thành cảm ơn !

Tư vấn về nguyên tắc phân chia tài sản sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn cần xác định rõ những vấn đề sau để giải quyết vấn đề của mình:

Thứ nhất, đối với việc ly hôn của bạn và chồng thì tài sản sẽ được giải quyết như thế nào?

"Điều 59, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy, về nguyên tắc, tài sản chung của bạn và chồng bạn sẽ được chia đôi tuy nhiên vẫn phải xem xét các yếu tố:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Thứ hai, đối với quyền lợi của con bạn thì sẽ chồng bạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng:

Theo Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này."

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyển của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Như vậy, nếu sau khi ly hôn chồng bạn không trực tiếp nuôi con thì sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con bạn

Vê mức cấp dưỡng thì được xác định như sau:

Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết"

Do đó, vì con bạn chưa thành niên nên về mức cấp dưỡng bạn và chồng bạn sẽ thỏa thuận với nhau căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của chồng bạn và nhu cầu thiết yếu của con bạn; nếu không thỏa thuận được thì hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ ba, con trai bạn có được chia tài sản của nhà nội từ phần của chồng bạn khi bạn ly hôn không?

Đối với trường hợp của bạn,trước khi bố mẹ chồng bạn mất đã phân chia cho mỗi người một phòng, thì khi bố mẹ chồng bạn mất phòng của ai vẫn thuộc sự sở hữu của người đó,còn đối với những phần bố mẹ chồng bạn chưa phân chia thì được định đoạt như sau:

- Nếu bố mẹ chồng bạn để lại di chúc mà có phân chia những tài sản còn lại mà có phần của con bạn thì con bạn được hưởng phần di sản này. Nếu trong di chúc không định đoạt phần của con bạn thì con bạn sẽ không được hưởng

- Nếu bố mẹ chồng bạn không để lại di chúc thì di chúc được chia theo pháp luật

Theo quy định về hàng thừa kế trong Điều 676 BLDS năm 2005

"Điều 676.Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, chồng của bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, nên chồng của bạn sẽ được hưởng trong số tài sản mà bố mẹ chồng bạn được hưởng.Vì con của bạn thuộc hàng thừa kế thứ hai nên tại thời điểm này con của bạn sẽ không được hưởng trong số tài sản đó; nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì con của bạn mới được hưởng.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

3. Thủ tục ly hôn và phân chia quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ?

Luật Minh Khuê xin đưa ra tư vấn về thủ tục ly hôn và phân chia tài sản chung, quyền nuôi con sau khi ly hôn.

Trả lời:

+) Hồ sơ, thủ tục ly hôn:

Trường hợp 1: Thuận tình ly hôn.

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả 2 vợ chồng đều đồng ý ly hôn và ký vào đơn ly hôn. Các giấy tờ trong hồ sơ thuận tình ly hôn gồm có:

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung.

- Bản gốc Giấy chứng nhận kết hôn.

- Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của các con chung (nếu có).

- Bản sao có chứng thực CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng.

- Biên bản hòa giải không thành của Chính quyền địa phương (nếu có).

Theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam thì trường hợp thuận tình ly hôn là trường hợp vợ chồng phải đạt được thỏa thuận về cả 3 vấn đề là nhân thân (quan hệ vợ chồng), con cái và tài sản chung. Chỉ khi không có tranh chấp Tòa án mới giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn. Còn khi phát sinh bất kỳ một tranh chấp nào thì Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự.

Trước hết, chúng tôi xin tư vấn về trình tự thủ tục công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự:

- Nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi một trọng hai bên thuận tình ly hôn đang cư trú hoặc làm việc.

- Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn, Tòa án phải xem xét thủ tục thụ lý đơn theo Điều 167 Bộ luật Tố tụng dân sự:

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)."

Nếu như không rơi vào trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 nêu trên thì Tòa án phải gửi cho Quý khách thông báo về việc đã nhận được đơn và gửi thông báo nộp tiền tạm ứng lệ phí.

- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, Quý khách phải nộp tiền tạm ứng lệ phí tại Chi cục Thi hành án (cấp huyện). Ngày mà Quý khách nộp Biên lai nộp tiền tạm ứng lệ phí là ngày Tòa án sẽ vào sổ thụ lý việc dân sự và bắt đầu thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự.

- Trong thời hạn giải quyết việc dân sự, Tòa án sẽ tiến hành thủ tục hòa giải. Hòa giải thành là trường hợp vợ chồng không còn yêu cầu ly hôn nữa và đồng ý đoàn tụ với nhau. Lúc này Tòa án sẽ căn cứ vào việc đương sự có rút đơn yêu cầu hay không để giải quyết. Nếu đương sự rút đơn yêu cầu Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Nếu đương sự không rút đơn yêu cầu Tòa án sẽ ra lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

- Tại phiên họp giải quyết việc dân sự, Tòa án phải ra quyết định giải quyết việc dân sự trong đó chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thuận tình ly hôn.

- Thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự là 2 tháng, trong trường hợp có những tình tiết phức tạp có thể gia hạn 1 lần nhưng không quá 1 tháng.

- Lệ phí tòa án trong trường hợp không có tranh chấp về tài sản là 200.000 đồng.

Trường hợp 2: Đơn phương ly hôn.

Đơn phương ly hôn là trường hợp yêu cầu ly hôn xuất phát từ một bên vợ hoặc chồng, còn người kia không đồng ý ly hôn. Hồ sơ đơn phương ly hôn gồm có:

- Đơn khởi kiện ly hôn.

- Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

- Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của các con chung (nếu có)

- Bản sao có chứng thực CMND, sổ hộ khẩu của cả hai vợ chồng.

- Biên bản hòa giải không thành của Chính quyền địa phương (nếu có).

Trường hợp đơn phương ly hôn Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Trình tự, thủ tục giải quyết như sau:

- Nộp đơn tại Tòa án nhân dân huyện nơi bị đơn đang cư trú hoặc làm việc.

- Các vấn đề về việc nộp tiền tạm ứng án phí, chuẩn bị xét xử, hòa giải như trong trường hợp thuận tình ly hôn.

- Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án dân sự là 4 tháng, nếu có các tình tiết phức tạp có thể gia hạn 1 lần không quá 2 tháng.

- Án phí được xác định như sau:

+ Nếu chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con cái thì án phí là: 300.000 đồng.

+ Nếu có tranh chấp về tài sản chung yêu cầu Tòa án giải quyết thì án phí được xác định dựa trên giá trị tài sản có tranh chấp.

+) Phân chia tài sản sau khi ly hôn:

về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn như sau:

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể trường hợp của vợ chồng bạn là chia tài sản vợ chồng chung sống với gia đình. Do đó sẽ được giải quyết theo Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể như sau:

"1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Như vậy trong trường hợp này, sau khi ly hôn việc phân chia tài sản trong gia đình sẽ do các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì sẽ do Tòa án giải quyết. Trước tiến cần xác định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đó có phải thuộc tài sản chung của hai vợ chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân hay không, nếu là tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì về nguyên tắc sẽ chia đôi và có tính đến công sức đóng góp của hai bên Tuy nhiên hai vợ chồng lại chung sống với hai con, và hai con có công sức đóng góp vào việc xây dựng nhà cửa, mua sắm tài sản và các vật dụng trong gia đình. Do đó sau khi ly hôn về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi và có tính đến công sức đóng góp của hai bên, và các con của bạn cũng sẽ được chia về phần đã đóng góp tiền của, công sức vào việc xây đựng nhà cửa, công trình phụ, mua sắm tài sản, vật dụng hiện có của cả gia đình.

+) Quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

Việc phân chia quyền nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Từ quy định trên, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn sẽ do vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Tuy nhiên, theo như bạn nêu thì con bạn hiện chưa được 3 tuổi (dưới 36 tháng) nên sẽ được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Cuộc sống vợ chồng bế tắc có được xem là lý do xin ly hôn chính đáng không ?

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi kết hôn năm 17/11/2005, đã có 2 người con, một cháu 5 tuổi và 1 cháu 4 tuổi. Tuy anh ấy không có hành vi bạo lực với tôi hay ngoại tình với người phụ nữ khác. Chỉ có điều, anh ấy không chịu làm ăn, suốt ngày chỉ mải chơi game mà không đoái hoài gì đến cuộc sống vợ chồng và không giúp tôi chăm sóc các con, ghánh nặng về cuộc sống gia đình trút hết lên vai tôi trong khi cơ thể thì chẳng khỏe mạnh như người bình thường. nhiều lúc cảm thấy cuộc sống bế tắc, cả ngày trời có khi chẳng nói với nhau được câu nào.
Vì thương các con nên cố nhịn, nhưng tới nay tôi không thể chung sống trong hoàn cảnh này nữa và giờ tôi muốn ly hôn đơn phương, dành quyền nuôi 2 cháu thì sẽ phải cần những gì ?
Cảm ơn!

Cuộc sống vợ chồng bế tắc có được xem là lý do xin ly hôn chính đáng không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đinh 2014

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Theo thông tin chị cung cấp, do chị bệnh tật, lại phải chăm sóc con cái, ghánh vác công việc trong gia đình mà người chồng khỏe mạnh lại không chịu làm ăn, hỗ trợ chị chăm sóc các con, nên dẫn tới cuộc sống chung của hai vợ chồng không thể kéo dài hơn. Như vậy, chị hoàn toàn có đủ điều kiện để nộp đơn xin ly hôn đơn phương lên Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chồng mình.

- Căn cứ theo điều 81 Luật này

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Hiện tại, anh chị có hai con chung đã trên 36 tháng tuổi, nên quyền được nuôi con sau khi ly hôn là như nhau. Do vậy, để dành được quyền nuôi con, chị phải chứng minh được có thời gian chăm sóc con và những điều kiện dành cho con khi về chung sống với mình. Qua đó, khi Tòa án nhận thấy ai là người có khả năng chăm sóc và giáo dục con tốt hơn thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho người đó.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Khi ly hôn có bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải ?

Chào quý Luật sư. Tôi có câu hỏi mong được quý luật sư giải đáp. Tôi năm nay 29 tuổi, có một con hiện đang 34 tháng tuổi. Do mâu thuẫn gia đình nên vợ tôi đã làm đơn ly hôn đơn phương. Tôi có ra xã hòa giải nhưng không thành, tôi luôn thể hiện quan điểm của mình là không muốn ly hôn còn vợ tôi thì ngược lại. Tôi có hỏi đến Tòa án hỏi các bứỡc tiếp theo thì làm gì?
Bao giờ sẽ lên tòa án để hòa giải thì được trả lời rằng do vợ tôi có làm đơn yêu cầu không cần hòa giải mà tiến hành đưa ra xét xử luôn. Tôi có thắc mắc như sau: Tôi có nghe nói hòa giải là thủ tục bắt buộc tại sao tòa án trả lời như vậy. Trả lời như vậy có đúng không ? Tôi lo sợ rằng khi ra tòa con tôi vẫn dưới 36 tháng tuổi nên tôi sẽ không được phép nuôi con.
Tôi cảm ơn !

Luật sư trả lời.

Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

Điều 54. Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Dẫn chiếu đến quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Điều 10. Hòa giải trong tố tụng dân sự

Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.

Từ những quy định trên ta thấy rằng : Khi giải quyết ly hôn thì hòa giải là một thủ tục bắt buộc tạiTòa án. Dù là đơn phương ly hôn hay thuận tình ly hôn thì tòa án vẫn phải thực hiện hòa giải giữa các bên, đây là "trách nhiệm" với mục đích tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau, hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng.

Trong trường hợp này bạn có thể trực tiếp làm đơn khiếu nại gửi đến Tòa án nhân dân nơi đã tiếp nhận vụ việc dân sự của bạn để yêu cầu xem xét lại và thực hiện thông qua thủ tục hòa giải để hàn gắn tình cảm giữa vợ chồng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?