1. Xử lý tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng về đất được hướng dẫn như thế nào?
Theo Điều 11 của Thông tư 76/2014/TT-BTC được bổ sung bởi Thông tư 332/2016/TT-BTC hướng dẫn về xử lý tiền bồi thường và giải phóng mặt bằng về đất, có các quy định sau đây:
- Trong trường hợp đất được chuyển nhượng thông qua việc tổ chức đấu giá, các khoản chi phí bồi thường và giải phóng mặt bằng sẽ được hoàn trả bởi ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Nếu đất không được chuyển nhượng qua đấu giá, các khoản chi phí bồi thường và giải phóng mặt bằng sẽ được người nhận đất thực hiện và nộp vào ngân sách nhà nước. Số tiền này sẽ được khấu trừ từ số tiền phải nộp cho việc sử dụng đất (nếu có) hoặc được tính vào vốn đầu tư của dự án (trong trường hợp người sử dụng đất không cần phải nộp tiền sử dụng đất).
- Nếu người sử dụng đất tự nguyện ứng trước tiền bồi thường và giải phóng mặt bằng theo quy định tại Điều 15 Khoản 2 của Nghị định 45/2014/NĐ-CP, thì cơ quan tài chính sẽ ghi thu và ghi chi số tiền bồi thường và giải phóng mặt bằng, được khấu trừ từ số tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
- Đối với các dự án đầu tư không thông qua việc đấu giá đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 và sử dụng đất theo nhiều hình thức (bao gồm cả việc thu tiền sử dụng đất, không thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất), nếu nhà đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường và giải phóng mặt bằng, thì việc khấu trừ tiền bồi thường và giải phóng mặt bằng sẽ được tính theo từng loại diện tích và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Các chi phí bồi thường và giải phóng mặt bằng của diện tích đất dùng cho mục đích công cộng (không thu tiền sử dụng đất) sẽ được phân bổ vào các phần diện tích thu tiền sử dụng đất và thuê đất theo tỷ lệ diện tích của từng phần trong tổng diện tích. Số tiền bồi thường và giải phóng mặt bằng còn lại (nếu có) sẽ được tính vào vốn đầu tư của dự án.
Không có việc phân bổ tiền bồi thường và giải phóng mặt bằng vào tiền thuê đất của diện tích xây dựng công trình ngầm (không phải là phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất) hoặc phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất mà có diện tích xây dựng công trình ngầm vượt ra ngoài diện tích đất trên mặt đất.
Điều này nhằm đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong việc xử lý tiền bồi thường và giải phóng mặt bằng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dự án đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng.
2. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, quản lý đất đã thu hồi
Quy định về tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng, cũng như quản lý đất đã thu hồi theo Điều 68 của Luật Đất đai 2013 có các điểm sau:
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng bao gồm các hoạt động như tổ chức cung cấp dịch vụ công liên quan đến đất đai, Hội đồng bồi thường, và hỗ trợ tái định cư được xem xét là phần của tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc tổ chức các hoạt động liên quan đến bồi thường và giải phóng mặt bằng để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình tái định cư và sử dụng đất.
- Đất đã thu hồi được phân giao để quản lý và sử dụng theo các quy định sau đây: Đất đã thu hồi theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai 2013 sẽ được giao cho chủ đầu tư để thực hiện dự án đầu tư hoặc được giao cho các tổ chức cung cấp dịch vụ công liên quan đến đất đai để quản lý; Đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 của Điều 64 và các điểm a, b, c, d của khoản 1 của Điều 65 của Luật Đất đai 2013 sẽ được giao cho các tổ chức cung cấp dịch vụ công liên quan đến đất đai để quản lý và để tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất.
Trong trường hợp đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 của Điều 64 và các điểm a, b, c, d của khoản 1 của Điều 65 của Luật Đất đai 2013 là đất nông nghiệp của hộ gia đình hoặc cá nhân tại vùng nông thôn, thì sẽ được giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để quản lý. Quỹ đất này sẽ được giao và cho thuê cho các hộ gia đình hoặc cá nhân không có đất hoặc đang thiếu đất sản xuất theo quy định của pháp luật. Biện pháp này nhằm mục đích hỗ trợ cho những hộ gia đình hoặc cá nhân không có đất hoặc đang thiếu đất sản xuất tại vùng nông thôn, giúp họ có cơ hội tiếp cận và sử dụng đất để phát triển nông nghiệp và tăng cường sinh kế.
Điều này nhằm mục đích tối ưu hóa việc sử dụng đất đã thu hồi, đảm bảo rằng nó được sử dụng hiệu quả và có ích cho cộng đồng, đặc biệt là trong việc hỗ trợ cho các hộ gia đình hoặc cá nhân không có đất hoặc đang thiếu đất sản xuất tại vùng nông thôn.
3. Quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Quy định về bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất, như được quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai 2013, được thực hiện theo các điều sau đây:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, khi Nhà nước thu hồi đất ở mà họ có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp luật, sẽ được bồi thường như sau:
+ Nếu toàn bộ hoặc phần lớn diện tích đất ở bị thu hồi không đủ để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, và hộ gia đình, cá nhân không có đất ở hoặc nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở bị thu hồi, họ sẽ được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
+ Trong trường hợp diện tích đất ở bị thu hồi không đủ để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nhưng hộ gia đình, cá nhân vẫn có đất ở hoặc nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở bị thu hồi, họ sẽ được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có quỹ đất ở, cân nhắc để bồi thường bằng đất ở.
- Trong trường hợp trong một hộ gia đình như mô tả ở Khoản 1, nếu có nhiều thế hệ hoặc nhiều cặp vợ chồng cùng sống trên một thửa đất ở bị thu hồi và đủ điều kiện để tách ra thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú, hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở bị thu hồi, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình, dựa trên tình hình thực tế và quỹ đất ở tại địa phương.
- Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo các trường hợp quy định tại Khoản 1, nhưng không có nhu cầu nhận bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư, sẽ được Nhà nước bồi thường bằng tiền.
- Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất liên kết với nhà ở và phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường bằng đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi, Nhà nước sẽ bán, cho thuê, hoặc cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở và giá đất ở để tính tiền sử dụng đất sẽ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Trình tự, thủ tục giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất.
Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!