- 1. Khái niệm kế thừa trong luật quốc tế
- 2. Kế thừa quốc gia sau cách mạng xã hội
- 3. Kế thừa quốc gia do kết quả của phong trào giải phóng dân tộc
- 4. Kế thừa quốc gia khi hợp nhất hoặc giải thể quốc gia liên bang khi thay đổi lớn về lãnh thổ quốc gia
- 4.1 Kế thừa quốc gia khi hợp nhất hoặc giải thể quốc gia liên bang
- 4.2 Kế thừa trong trường hợp có thay đổi lớn về lãnh thổ
1. Khái niệm kế thừa trong luật quốc tế
Trong hai công ước Viên về quyền thừa kế quốc gia do Uỷ ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc soạn thảo (Công ước Viên về kế thừa theo điều ước quốc tế thông qua ngày 22/8/1978, Công ước Viên về kế thừa tài sản, hồ sơ lưu trữ và công nợ của quốc gia thông qua ngày 7/4/1983) có định nghĩa kế thừa quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ sự thay thế của một quốc gia này cho một quốc gia khác trong việc hưởng quyền và gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối vói lãnh thổ nào đó. Việc đưa ra định nghĩa như vậy về kế thừa quốc gia là cố gắng khá lớn của Uỷ ban pháp luật quốc tế. Quan hệ kế thừa quốc gia liên quan đến các yếu tố:
- Chủ thể của quan hê kế thừa là các quốc gia. Các quốc gia này được phân ra thành quốc gia để lại quyền thừa kế và quốc gia có quyền kế thừa.
- Đối tượng kết thừa (hay còn gọi là khách thể của sự kế thừa) đó là các quyền và nghĩa vụ quốc tế. Những đốì tượng quan trọng nhất ở đây là lãnh thổ, điều ước quốc tế, tài sản quốc gia, quốc tịch và quy chế thành viên tại các tổ chức quốc tế.
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi quyền kế thừa ở đây là những biến cố chính trị lớn lao xảy ra hợp với quy luật khách quan của xã hội, thoả mãn những yêu cầu của luật quốc tế hiện đại, đặc biệt là nguyên tắc dân tộc tự quyết.
2. Kế thừa quốc gia sau cách mạng xã hội
Quốc gia dưới góc độ chủ thể của luật quốc tế là một đơn vị lãnh thổ-dân cư kết hợp với một cơ cấu chính trị-giai cấp nhất định. Cách mạng xã hội tại các nước vốn không phải là thuộc địa thường giữ lại được đơn vị lãnh thổ-dân cư đó với những đặc tính giai cấp của một kiểu quốc gia khác với quốc gia đã tồn tại trước cách mạng.
Sau cách mạng xã hội, một bộ phận cấu thành quan trọng quốc gia-đơn vị lãnh thổ-dân cư không thay đổi, cho nên khó có thể nói cách mạng xã hội đã làm xuất hiên một chủ thể hoàn toàn mới của luật quốc tế (tuy rằng quốc gia sau cách mạng xã hội vẫn được coi là chủ thể mới của luật quốc tể).
Vấn đề kế thừa và quyền kế thừa của quốc gia sau cách mạng xã hội được giải quyết rất khác nhau. Việc giải quyết các vấn đề đó thường phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể. Luật quốc tế hiện đại chưa có những quy phạm thống nhất cách giải quyết các vấn đề này. Chẳng hạn, trước đây, trong giải quyết vấn đề kế thừa, Nhà nước xô viết đã kiên quyết đoạn tuyệt vói tất cả những quyền và nghĩa vụ mâu thuẫn với bản chất giai cấp của nhà nước kiểu mới. Chính phù Nga xô viết đã huỷ bỏ các món nợ do Chính phủ Sa hoàng vay nước ngoài, bãi bỏ quyền tài phán lãnh sự ở các nước phương Đông, huỷ bỏ các điều ước nô dịch, bất bình đẳng... Trong khi đó, chính phủ Nga xô viết lại tôn trọng tất cả các quy định trong các điều ước về biên giới, các công ước nhân đạo, Công ước toàn thế giới về thư tín, viễn thông năm 1874 và tất cả những gì phát sinh từ quan hệ “láng giềng thân thiện” không mâu thuẫn với ý thức pháp luật “của nền dân chủ nói chung và của quần chúng nhân dân lao động nói riêng”.
Nhà nước xô viết đã tuyên bố quyền kế thừa tất yếu của mình đối vói tất cả tài sản của nước Nga cũ, không kể tài sản đó đang ở tại đâu và kế thừa tất cả những thành quả lao động của nhân dân nước mình làm ra.
3. Kế thừa quốc gia do kết quả của phong trào giải phóng dân tộc
Kế thừa quốc gia do kết quả của phong trào giải phóng dân tộc có những điểm đặc biệt. Nội dung của những đặc điểm đó được thể hiện qua các mặt sau:
- Quốc gia mới thành lập trước đây vốn là một thuộc địa hoặc lãnh thổ lệ thuộc vào nước khác.
- Quốc gia để lại quyền kế thừa vẫn tồn tại và nó vẫn là chủ thể luật quốc tế. Các quyền và nghĩa vụ quốc tế của quốc gia này vẫn được duy trì tại quốc gia mới thành lập (quốc gia có quyền kế thừa) trong một thời gian nhất định, trừ những quyền và nghĩa vụ có liên quan đến địa vị pháp lý của chính quốc gia để lại quyền kế thừa trong quan hệ qua lại với thuộc địa đã nhận được độc lập (quốc gia mới).
- Quốc gia để lại quyền thừa kế đã bóc lột và đàn áp nhân dân ở nước mới độc lập trong nhiều năm nhưng cuối cùng nhân dân ở thuộc địa này đã giành được độc lập và thành lập một quốc gia độc lập, chủ quyền, có địa vị pháp lý quốc tế bình đẳng vói quốc gia đê’ lại quyền kế thừa.
- Theo luật quốc tế hiện đại, các quốc gia mới giành được độc lập không nhất thiết phải tôn trọng các điều ước quốc tế trước đầy vẫn phải thi hành tại lãnh thổ của quốc gia mới đó.
Trong một số trường hợp khác, quốc gia mới thành lập ký kết những điều ước đặc biệt với quốc gia để lại quyền kế thừa để giải quyết vấn đề cụ thể nói trên. Trong nhiều điều ước loại này có ghi nhận việc quốc gia mới thành lập sẽ kế thừa tất cả những điều ước còn hiệu lực thi hành do quốc gia để lại quyền kế thừa đã ký kết với nước khác về lãnh thổ vốn là thuộc địa hoặc lệ thuộc đó.
- Vấn đề kế thừa tài sản quốc gia có tại lãnh thổ vốn là thuộc địa cũng được luật quốc tế hiện đại điều chỉnh. Để giải quyết thoả đáng vấn đề này phải chú ý đến tác hại của sự bóc lột thuộc địa do quốc gia để lại quyền kế thừa đối với nền kinh tế của nước mới giành được độc lập. Ở đây không chỉ đơn thuần là kế thừa chính đáng của quốc gia mới thành lập đối với những tài sản quốc gia có tại lãnh thổ mới giành được độc lập mà vấn đề là phải làm sao để buộc quốc gia thực dân trao trả hoặc bồi thường những tài sản mà chúng đã cướp đi hoặc chiếm giữ do kết quả bóc lột lao động nhân dân thuộc địa.
- Vấn đề kế thừa quy chế thành viên tại các tổ chức quốc tế. Luật quốc tế hiện đại chưa có những quy phạm giải quyết vấn đề kế thừa quy chế thành viên của quốc gia mới thoát khỏi ách thực dân và lê thuộc. Thực tiễn của Liến hợp quốc đã giải quyết vấn đề kế thừa đó bằng cách kết nạp quốc gia mới giành được độc lập vào tổ chức của mình.
Thực tiễn của Việt Nam về vấn đề kế thừa sau khi giải phóng miền Nam Việt Nam rất phong phú. Ngay sau ngày miền Nam được giải phóng hoàn toàn (ngày 30/4/1975), Chính phủ cách mạng lâm thời Công hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý có liên quan đến vấn đề kế thừa quốc gia. Chẳng hạn, trong Tuyên bố ngày 30/4/1975 của Bộ ngoại giao Cộng hoà miền Nam Việt Nam về quyền thu hồi tất cả tài sản của nhân dân miền Nam Việt Nam ở nước ngoài có ghi rõ “Bộ ngoại giao Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố tất cả tài sản ở miền Nam Việt Nam cũng như ở nước ngoài, những bất động sản và động sản, tiền tệ, vàng bạc, các phương tiện giao thông... trước thuộc chính quyền Sài Gòn từ nay thuộc về nhân dân miền Nam Việt Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được pháp luật quốc tế công nhận". Hoặc, trong Tuyên bố ngày 1/5/1975 về vấn đề các cơ quan đại diện của Chính quyền Sài Gòn cũ ở nước ngoài, Bộ ngoại giao Cộng hoà miền Nam Việt Nam có ghi rõ: ‘Tớdn bộ tài sản của cấc cơ quan đó, kể cả hồ sơ, tư liệu, tài khoản ở ngân hàng, nhà cửa, phương tiện vận chuyển... là tài sản của nhân dân miền Nam Việt Nam. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam quản lý tất cả hồ sơ, tư liệu và tài sản đó".
Vấn đề kế thừa các tài sản, các quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng khác mà trước đây đã được chính quyền cũ ở Sài Gòn thực hiên và vấh đề quyền kế thừa quy chế thành viên tại các tổ chức quốc tế cũng được nói đến trong những văn kiện pháp lý khác của Chính quyền nhân dân cách mạng miền Nam Việt Nam.
4. Kế thừa quốc gia khi hợp nhất hoặc giải thể quốc gia liên bang khi thay đổi lớn về lãnh thổ quốc gia
4.1 Kế thừa quốc gia khi hợp nhất hoặc giải thể quốc gia liên bang
Khi hợp nhất hai hay nhiều quốc gia độc lập vào một quốc gia liên bang thì tất cả những điều ước quốc tế do các quốc gia độc lập đã ký kết với nưốc ngoài đang có hiệu lực vẫn tiếp tục cố hiệu lực tại lãnh thổ liên bang. Những điều ước mâu thuẫn với mục đích và nguyên tắc cơ bản của quốc gia liên bang hoặc khi điều kiện để thực hiện điều ước đã ký kết thay đổi hoàn toàn do kết quả của việc hợp nhất hay kết quả của những hoàn cảnh khách quan ngoài ý muốn của các bên thì các điều ước nói trên chỉ có hiệu lực trong phạm vi phần lãnh thổ của quốc gia
tham gia điều ước (chủ thể của hên bang), tức quốc gia để lại quyền kế thừa nhưng cũng không loại trừ trường hợp điều ước nói trên được thi hành trên toàn lãnh thổ hên bang mới nếu các chủ thể của hên bang đồng ý chấp thuận trường hợp đó.
Trong trường hợp điều ước quốc tế nhiều bên chưa có hiệu lực vào thời điểm kế thừa thì quốc gia có quyền kế thừa có thể thiết lập cho mình một quy chế quốc gia ký kết điều ước quốc tế nhiều bên nói trên nếu vào thời điểm kế thừa có ít nhất một quốc gia để lại quyền kế thừa (chủ thể của liên bang mói) ký kết điều ước quốc tế đó.
Các trường hợp kế thừa điều ước khi hợp nhất các quốc gia được tổng kết trong phần IV của Công ước Viên năm 1978 đã nêu:
- Khi một quốc gia liên bang bị giải thể ra nhiều phần mà mỗi phần đó lại trở thành một quốc gia độc lập thì những điều ước quốc tế do quốc gia hên bang ký kết vói nước ngoài, nếu chúng đang có hiệu lực và nếu các quốc gia thoả thuận như vậy vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành đối vói các quốc gia có quyền thừa kế điều ước nói trên.
Trong trường hợp thành lập một quốc gia độc lập trên một phần lãnh thổ của quốc gia có quyền kế thừa trước đây vốn là chủ thể của quốc gia hên bang bị giải thể thì các điều ước quốc tế do quốc gia hên bang cũng như quốc gia có quyền kế thừa ký kết với nước ngoài chưa hết hiệu lực vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành đối với quốc gia mới thành lập.
Ngoại lệ chung cho cả hai trường hợp nói trên là các điều ưóc quốc tế mâu thuẫn với mục đích và nguyên tắc cơ bản của quốc gia mới thành lập hoặc những điều kiện, hoàn cảnh cần thiết để các điều ước nói hên có hiệu lực đã thay đổi hoàn toàn.
Vấn đề kế thừa các điều ước quốc tế trong trường hợp giải thể quốc gia liên bang cũng được tổng kết trong phần IV của Công ước Viên năm 1978 nói trên.
- Đối với vấn đề kế thừa tài sản trong trường hợp hợp nhất hai hoặc nhiều quốc gia độc lập vào một quốc gia liên bang thì quốc gia mới có quyền kế thừa tất cả tài sản của quốc gia thành viên liên bang.
Trong trường hợp giải thể quốc gia liên bang ra thành các quốc gia độc lập thì các quốc gia mới đó mới có quyền kế thừa theo những tỷ lệ thích hợp phần tài sản của quốc gia liên bang. Thông thường, các vấn đề cụ thể trong giải quyết khối tài sản của quốc gia liên bang phải được đặt ra tại hội nghị các quốc gia thành viên liên bang và phải được ấn định rõ trong văn kiện chính thức giữa các quốc gia thành viên liên bang trên cơ sở có cân nhắc đến tỷ lệ dân cư, hoàn cảnh địa lý, điều kiên phát triển kinh tế và một số cơ sở khác.
Vấn đề kế thừa quy chế thành viên tại các tổ chức quốc tế trong trường hợp nhất hoặc giải thể quốc gia được giải quyết theo nhiều cách khác nhau. Trước đây, các luật gia quốc tế cho rằng vấn đề này chỉ mang tính chất nhân thân, không cần thiết phải giải quyết thoả đáng. Song thực tiễn quan hệ quốc tế trong những năm gần đây của Liên hợp quốc đã chứng minh quốc gia mới thành lập do hợp nhất hoặc giải thể có quyền kế thừa quy chế thành viên của quốc gia để lại quyền kế thừa tại tổ chức quốc tế.
Có thể thấy rõ thực tế này qua trường hợp giải quyết kế thừa của một số quốc gia sau sự kiện sát nhập hoặc tách khỏi quốc gia hên bang, tiêu biểu là trường hợp cùa Liên Xô cũ. Khi Liên Xô tan rã, vấn đề kế thừa trong thực tế đã được giải quyết trên cơ sở của Hiệp ước thành lập SNG ngày 8 tháng 12 năm 1991 vói việc bảo đảm cho các quốc gia độc lập - thành viên SNG quyền kế thừa các nghĩa vụ và quyền lợi phát sinh từ các điều ước và các cam kết quốc tế mà Liên Xô cũ là thành viên. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia thành viên SNG tự động trở thành thành viên của tất cả các điều ước quốc tế mà
Liên Xô cũ để lại. Mỗi quốc gia của SNG với tư cách là chủ thể kế thừa của Liên Xô cũ có quyền thể hiên sự chấp nhận họặc không chấp nhận đối với các nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế mà Liên Xô cũ đã là thành viên dành cho.
Riêng về phía Liên bang Nga, Bộ ngoại giao Liên bang đã gửi công hàm cho tất cả các cơ quan đại diện ngoại giao của Liên bang Nga ở nước ngoài ngày 13 tháng 1 năm 1992, trong đó tuyên bố rõ Liên bang Nga tiếp tục hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế mà Liên Xô cũ ký kết và yêu cầu hãy coi Liên bang Nga là quốc gia thành viên của các điều ước quốc tế hiện hành thay thế Liên Xô cũ. Liên bang Nga tiếp tục hưởng quy chế thành viên của Liên Xô cũ tại Liên hợp quốc, kể cả quy chế thành viên Hội đồng bảo an và các tổ chức quốc tế khác. Đổi lại, Liên bang Nga sẽ phải gánh chịu phần lớn nghĩa vụ của Liên Xô cũ, bao gồm cả những nghĩa vụ về tài chính mà Liên Xô cũ để lại; hoặc một số trường hợp khác như của Séc và Slôvakia kế thừa Tiệp Khắc; Cộng hoà hồi giáo lêmen kế thừa Bắc lêmen (Cộng hoà hồi giáo lêmen) và Nam lêmen (Cống hoà dân chủ lêmen); Cộng hoà Liên bang Đức kế thừa Cộng hoà dân chủ Đức...
4.2 Kế thừa trong trường hợp có thay đổi lớn về lãnh thổ
Khi có thay đổi lớn về lãnh thổ phù hợp với luật quốc tế hiện đại hoặc khi chuyển nhượng một phần lãnh thổ hay sáp nhập phần lãnh thổ của một quốc gia này vào lãnh thổ của quốc gia khác theo các điều ước quốc tế về chuyển nhượng hay sáp nhập cụ thể, người ta thường áp dụng nguyên tắc di chuyển đường quốc giới theo thoả thuận giữa các bên hữu quan. Nội dung chính của nguyên tắc này được thể hiện qua các điểm sau đây:
- Các điều ước quốc tế của quốc gia để lại quyền kế thừa sẽ mất hiệu lực thi hành tại lãnh thổ này từ thời điểm chuyển giao lãnh thổ đó cho quốc gia khác.
- Các điều ước quốc tế của quốc gia có quyền kế thừa sẽ có được hiệu lực thi hành tại lãnh thổ. Điều ngoại lê ở đây có thể là điều ước quốc tế của quốc gia có quyền thừa kế mâu thuẫn với mục đích thay đổi lãnh thổ hay trái với chính sách của quốc gia để lại quyền kế thừa hoặc khi phạm vi cam kết theo các điều ước quốc tế hay các điều kiên cần thiết để thực hiện các điều ước đó đã thay đổi hoàn toàn.
Tuy vậy, trong trường hợp có thay đổi Ịớn về lãnh thổ như đã nói trên, các điều ước quốc tế liên quan đến biên giới của lãnh thổ được chuyển giao cho quốc gia khác vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành đôì với quốc gia - bên tham gia điều ước cụ thể đó nhưng không tham gia quan hệ kế thừa trong trường hợp này.
Tất cả những vấn đề còn lại có liên quan đến quyền kế thừa và được phát sinh khi chuyển giao lãnh thổ sẽ được giải quyết thồng qua việc ký kết những điều ước quốc tế cụ thể về các vấn đề đó giữa các bên hữu quan.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)