1. Kết án là gì ?

Kết án là Tòa án ra bản án tuyên bố một người phạm tội do hành vi của mình gây ra theo quy định của Bộ luật hình sự.

Toà án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kết án một người phạm tội. Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Khi kết án bị cáo, bản án của Toà án phải ghi rõ các chứng cứ xác định bị cáo phạm tội, tội danh, điều khoản Bộ luật hình sự được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Người phạm tội bị Toà án kết án phải gánh chịu nhiều hậu quả pháp lí. Họ bị buộc phải chấp hành hình phạt của ban án đã tuyên, trừ trường hợp được miễn hình phạt. Người bị kết án có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định, yêu cầu Toà án cấp trên - cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.

2. Không ai bị kết án hai lần vì một tội

2.1 Theo Hiến pháp nước cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam

Thứ nhất theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại điều 31 quy định như sau:

Điều 31:

1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.

3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.

So với hiến pháp trước đây thì hiến pháp năm 2013 thì điều 31 có thể xem là một bổ sung quan trọng đảm bảo cho quyền của con người và quyền của công dân. Đây có thể xem là quyền có lợi cho bị can và bị cáo trong quá trình điều tra cũng đến khi xét xử và có bản án cuối cùng của Tòa án. Tuy nhiên quy định không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm của Hiến pháp năm 2013 chỉ mang tính nguyên tắc chung chưa có sự cụ thể. Trong quá trình triển khai các quy định của Hiến pháp năm 2013 .

2.2 Theo Bộ luật tố tụng hình sự 

Theo quy định tại điều 14 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cụ thể như sau:

Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.

Điều 14 công ước quốc tế quy định cụ thể như sau: “Không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước".

Xuất phát từ công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia thì phải tuân thủ trong mọi truy trình thủ tục tố tụng của mình, trong đó trong thủ tục tố tụng hình sự, dân sự, hành chính đều được áp dụng một cách triệt để, đồng thời được cụ thẻ hóa trong hiến pháp – 1 văn bản pháp luật có giá trị cao nhất của quốc gia. Nguyên tắc này thể hiện tinh thần nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, được công ước quốc tế cụ thể hóa tại điều 14 nêu trên. Các cơ quan tiến hành tố tụng của mỗi quốc gia khi tiến hành các thủ tục tố tụng của mình tuyệt đối không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và kết án đối với một người mà hành vi của người đó đã bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án trước đó, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.

Trong quá trình giải quyết vụ án nếu xác định được hành vi phạm tội đã bị xử lý bằng quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật trước đó rồi thì phải đình chỉ vụ án. Về nguyên tắc này, người phạm tội khi đã bị xét xử về tội phạm do mình thực hiện và đã có bản án có hiệu lực pháp luật thì không phải chịu thêm bất kỳ một sự kết án nào khác về tội phạm đó nữa.

3. Kỳ án bị kết án hai lần về một hành vi phạm tội

Vụ án ở Lâm Đồng vợ chồng ông Lê Trần Hoan và bà Nguyễn Thị Liễu ở xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) kêu cứu việc con trai họ là bị cáo Lê Trần Hưng bị kết án 2 lần về cùng một hành vi phạm tội xảy ra từ năm 2013. Bị cáo Hưng đang chấp hành bản án 30 tháng tù treo, thử thách 60 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” thì mới đây, vào tháng 5/2019 bị cáo này lại tiếp tục bị kết án 5 năm tù giam cũng về chính hành vi trên. Ngày 27/8/2013 do tranh chấp lối đi, giữa bị cáo Lê Trần Hưng với 2 anh em người hàng xóm là Nguyễn Tấn Viên, Nguyễn Tấn Vĩnh xảy ra mâu thuẫn. Quá trình xô xát, ẩu đả, bị cáo Hưng đã gây thương tích cho anh Viên là với tỉ lệ thương tật là 18%; tỉ lệ thương tật của anh Vĩnh là 11%. Tại bản án sơ thẩm (vòng tố tụng thứ nhất) ngày 26/12/2014, TAND huyện Đức Trọng kết án Lê Trần Hưng 30 tháng tù treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 60 tháng. Tòa cũng tuyên buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại và tuyên giao bị cáo cho địa phương quản lý, giáo dục. 

Sau đó phía người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt. Tuy nhiên bản án phúc thẩm số 50/2015 ngày 23/4/2015 của TAND tỉnh Lâm Đồng đã bác kháng cáo, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm. Cùng ngày, Chánh án TAND huyện Đức Trọng ban hành Quyết đinh số 19 về việc thi hành bản án treo đối với Lê Trần Hưng. Thực hiện quyết định này, hàng tháng Lê Trần Hưng đều có mặt đầy đủ, nghiêm chỉnh chấp hành việc trình diện tại xã Hiệp Thạnh. 

Ngày 13/4/2016, Chánh án TAND Cấp cao tại TP HCM ra kháng nghị đề nghị xử hủy phần hình phạt cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm của vụ án để xét xử lại từ đầu. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 22/2016 ngày 30/5/2016, Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao tại TP HCM đã chấp nhận kháng nghị, tuyên hủy về phần hình phạt đối với bị cáo Hưng trong cả hai bản án; giao vụ án về cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại. Các nội dung khác của bản án vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành. 

Quá trình điều tra lại vụ án, người bị hại Nguyễn Tấn Viên được trưng cầu giám định lại thương tật, kết quả tỉ lệ thương tật của anh Viên là 33%. Với tỉ lệ thương tật như trên, bị cáo Hưng bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 điều 134 BLHS năm 2015. Ngày 17/5/2019 TAND huyện Đức Trọng xét xử sơ thẩm lại vụ án đã tuyên bị cáo Hưng mức án 5 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”. Ông Hoan, bà Liễu cho biết, mặc dù vụ án bị xử hủy để điều tra, xét xử lại từ đầu nhưng do không có Quyết định đình chỉ thi hành bản án phúc thẩm số 50 ngày 23/4/2015 của TAND tỉnh Lâm Đồng nên bị cáo Hưng vẫn tiếp tục chấp hành hình phạt 30 tháng tù treo, thời hạn thử thách 60 tháng. Tính đến nay, hơn 5 năm 4 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực, Hưng đã chấp hành xong phần án tù treo và gần xong thời hạn thử thách. Việc TAND huyện Đức Trọng xử sơ thẩm lại, tiếp tục kết án bị cáo Hưng 5 năm tù về chính hành vi mà bị cáo đã bị kết án và đang tiếp tục thi hành án là trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng tố tụng. 

Trong bản án sơ thẩm số 61 ngày 17/5/2019 TAND huyện Đức Trọng xét xử sơ thẩm lại vụ án, tại trang 5 cũng thể hiện ý kiến của đại diện VKS phát biểu tại phiên tòa như sau: “Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, một hành vi phạm tội không thể bị xét xử hai lần và do thiếu sót của TAND Cấp cao tại TP HCM không ra Quyết định đình chỉ thi hành bản án treo nên thực tế bị cáo Hưng đã thi hành một phần bản án. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại cũng có một phần sai sót nên VKS đề nghị xử phạt bị cáo Hưng 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 tháng.”

Tuy nhiên, quan điểm của VKS không được HĐXX chấp thuận, phần quyết định của bản án sơ thẩm số 61 đã tuyên phạt bị cáo Hưng 5 năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bản án được thi hành, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 31/3/2014 đến 17/4/2014; bản án tuyệt nhiên không đả động gì đến việc bị cáo Hưng đã chấp hành gần xong hình phạt 30 tháng tù treo, thử thách 60 tháng cũng về chính hành vi phạm tội trên. Đây là sai sót lớn, gây phương hại nghiêm trọng đến quyền lợi của bị cáo. 

4. Đã bị kết án là yếu tố xác định có xử lý trách nhiệm hình sự hay không ?

Theo quy định tại điều 53 Bộ luật Hình sự quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm quy định cụ thể như sau:

1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Đã bị kết án” thì bản án đó phải có hiệu lực pháp luật, bởi Điều 31 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” và do vậy, cụm từ “đã bị kết án” phải được hiểu là án có hiệu lực pháp luật.

Quan điểm thứ hai: Đối với cụm từ “Đã bị kết án”, được quy định tại rất nhiều điều luật của phần các tội phạm trong Bộ luật Hình sự và vẫn có thể được hiểu bản án đó phải có hiệu lực pháp luật và người bị kết án đó chưa được xóa án tích đối với bản án phải chấp hành đó.

Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS) có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018. Tại nhiều điều luật khác nhau ở cả Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS có sử dụng cụm từ “Đã bị kết án” để quy định là yếu tố cấu thành tội phạm hoặc là được xem xét để xác định tình tiết tăng nặng, tình tiết định khung hình phạt. Ở góc độ là yếu tố cấu thành tội phạm thì “Đã bị kết án” được quy định trong nhiều điều luật tại Chương XVI Các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu và Mục 1 Chương XVIII các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại. Thông thường ở các điều luật cụ thể này có quy định về định lượng cấu thành ở khoản 1 của điều luật, nếu chưa đủ cấu thành cơ bản thì phải thỏa mãn điều kiện là đã bị kết án.

Tuy nhiên, cả phần chung của Bộ luật Hình sự, chỉ có Điều 53 nói trên là quy định về “đã bị kết án”, và “đã bị kết án” trong trường hợp này được hiểu dùng điều chỉnh đối với hành vi đã bị xét xử nhưng vẫn ngoan cố, tiếp tục phạm tội, không có ý thức ăn năn, hối cải và như vậy quy định này nhằm đánh vào ý thức của người phạm tội để giáo dục người phạm tội chấp hành tốt quy định của pháp luật, biết hối lỗi khi đã từng phạm tội, từng bị xét xử nên không nhất thiết bản án phải có hiệu lực pháp luật. Điều này cũng nhằm để bản thân bị cáo (bị án) nhận thức được đã từng bị đưa ra xét xử, từng bị kết án nhưng vẫn tiếp tục phạm tội thì phải bị xử lý nghiêm khắc hơn những người khác để họ không tái phạm. Vì vậy, trong thời gian án chưa có hiệu lực pháp luật (kháng cáo, kháng nghị) mà tiếp tục phạm tội là hành vi phạm tội mới, phạm tội trong thời gian ngắn (sớm tái phạm), vừa bị xét xử nhưng vẫn không có ý thức tôn trọng luật pháp, tôn trọng cơ quan xét xử… thì phải tính là đã bị kết án và phải bị xử lý nghiêm minh hơn những người khác thì mới phù hợp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề về Kết án là gì ?  Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.