Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy giúp tôi phân tích và chỉ ra khái niệm đầu tư nước ngoài, chủ thể đầu tư nước ngoài và hình thức đầu tư nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Khái niệm đầu tư nước ngoài
Đầu tư có ý nghĩa khác nhau trong tài chính và kinh tế học. Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ. Đầu tư có liên quan đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn như quản lý kinh doanh và tài chính dù là cho hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc chính phủ. Trong tài chính, đầu tư tài chính là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn đánh giá cao, thường là trong tương lai dài hạn. Điều này có thể được hoặc không được hỗ trợ bởi nghiên cứu và phân tích. Hầu hết hoặc tất cả các hình thức đầu tư liên quan đến một số hình thức rủi ro, chẳng hạn như đầu tư vào cổ phần, bất động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể, ngoài những điều khác, rủi ro lạm phát. Theo pháp luật một số nước hiện nay, việc đầu tư nước ngoài cần phải được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đầu tư, đơn cử ở Việt Nam, việc đầu tư phải được cấp giấy chứng nhận nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư.
Theo Khoản 5 Điều 3 của Luật Đầu tư năm 2014 định nghĩa đầu tư ở phạm vi rộng, theo đó “đầu tư” được gộp chung với khái niệm “hoạt động đầu tư kinh doanh”.
Theo đó, đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.
2. Bình luận về khái niệm đầu tư nước ngoài
Bên cạnh khái niệm đầu tư kinh doanh ta nêu ở mục 1, các văn bản pháp luật khác liên quan đến đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay cũng không đưa ra khái niệm chính xác, rõ ràng về đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, từ thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, có thể hiểu hoạt động đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam.
Khái niệm này được cho là hẹp hơn quan niệm về đầu tư nước ngoài được ghi nhận tại một số điều ước quốc tế về đầu tư mà Việt Nam là thành viên. Theo xu hướng của các điều ước quốc tế về đầu tư hiện đại mà Việt Nam là thành viên thì khoản đầu tư mỗ rộng cả đến tài sản, quyền tài sản mà nhà đầu tư sở hữu, kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp.
Ví dụ: định nghĩa về đầu tư tại Chương V của Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ hay đỉnh nghĩa về đầu tư tại Điều 9.1 Mục A Chương 9 của CPTPP.
3. Chủ thể của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, có một số hoạt động khi muốn thực hiện đầu tư thì nhà đầu tư nước ngoài cần tuân thủ những yêu cầu cụ thể theo luật định.
Ví dụ: nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam phải bảo đảm những điều kiện riêng về lĩnh vực, phạm vi hoạt động đầu tư; hình thức đầu tư; tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài; vốn pháp định và các điều kiện khác theo quy định pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Ngoài ra, mặc dù Việt Nam đang trong quá trình thực hiện các cam kết về mở cửa thị trường với tư cách là thành viên WTO và một số FTA, EPA, nhưng cũng có những lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài không được phép đầu tư hoặc phải đáp ứng một số điều kiện.
Ví dụ, cam kết dịch vụ liên quan đến nông nghiệp, săn bắn và lâm nghiệp (CPC 881) tại Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam trong WTO: phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 51% vốh pháp định của liên doanh. Pháp luật Việt Nam không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài có quốc tịch khác nhau, bảo đảm quyền tự do và sự bình đẳng của các nhà đầu tư theo các cam kết của Việt Nam, đồng thời cũng đáp ứng yêu cầu bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong bôì cảnh hội nhập quốc tế.
Dưới đây là các hình thức đầu tư theo quy định pháp luật đầu tư của Việt Nam như sau:
- Cơ sở pháp lý: Theo quy định từ Điều 22 đến Điều 29 Luật Đầu tư năm 2014. Đầu tư nước ngoài bao gồm 04 hình thức, cụ thể ở các mục sau:
4. Thành lập tổ chức kinh tế
- Cơ sở pháp lý: khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014.
"Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh."
Điểm khác biệt là Luật Đầu tư năm 2014 không phân loại các tổ chức kinh tế mà nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam như Luật Đầu tư năm 2005, mà thay vào đó, quy định nhiều hơn về các điều kiện cũng như thủ tục thành lập tổ chức kinh tế.
Theo quy định tại Điều 22 Luật Đầu tư năm 2014, để được thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài cần có dự án đầu tư, đáp ứng các điều kiện và thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định pháp luật; Góp vốh, mua cổ phẩn, phần vốn góp vào tổ chức kỉnh tế.
"Điều 22. Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
1. Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư thông qua tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp hoặc đầu tư theo hợp đồng.
3. Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:
a) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán;
b) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;
c) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên."
Theo Điều 25 Luật Đầu tư năm 2014, nhà đầu tư được góp vốn thông qua các hình thức: mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần; góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh; góp vốh vào tổ chức kinh tê khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều 25. Đồng thời, nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức: mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông; mua phần vốh góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn; mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh; mua phần vốh góp của thành viên tổ chức kinh tế không thuộc ba trường hợp vừa nêu;
5. Đầu tư theo hợp đồng đối tấc công tư (hợp đồng PPP)
Hình thứ này, đây là hình thức đầu tư, theo đó, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án sẽ ký kết hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công (khoản 1 Điều 27 Luật Đầu tư năm 2014);
"Điều 27. Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP
1. Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công.
2. Chính phủ quy định chi tiết lĩnh vực, điều kiện, thủ tục thực hiện dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP."
6. Đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC)
Đây là hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư ký kết hợp đồng nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.
Nội dung của hợp đồng BCC quy định tại Điều 29 Luật Đầu tư năm 2014 đã chặt chẽ và rõ ràng hơn, cụ thể bao gồm: tên, địa chỉ người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án; mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh; đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên; tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng; sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp.
=> Như vậy, có thể thấy rằng, Luật Đầu tư năm 2014 đã không còn phân loại hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thành đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài mà đơn giản hóa thành hoạt động đầu tư nước ngoài nói chung.
Bên cạnh đó, việc đơn giản hóa được thể hiện ở sự thống nhất các loại hợp đồng BOT, BTO, BT và một số hợp đồng đầu tư khác được ký kết giữa nhà đầu tư với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công với tên gọi chung là hợp đồng ppp. Điều này cũng góp phần tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài có thể dễ dàng tiếp cận, hiểu và áp dụng pháp luật Việt Nam tốt hơn.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).