1. Giải quyết tranh chấp lao động là gì ?

Khác với việc giải quyết tranh chấp dân sự hay thương mại, giải quyết tranh chấp lao động ngoài việc khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của các bên còn nhằm củng cố và duy trì quan hệ lao động. Xét đến cùng, mặc dù mâu thuẫn, bất đồng, tranh chấp song các bên vẫn cần nhau để đạt được mục đích của mình trong quan hệ lao động và hơn thế nữa, vấn đề duy trì quan hệ lao động đặc biệt có ý nghĩa với người lao động. Vì vậy, giải quyết tranh chấp lao động còn nhằm giúp các bên ổn định quan hệ lao động, tạo điều kiện cho các bên của quan hệ lao động cùng hợp tác và phát triển.

Theo nghĩa hẹp, giải quyết tranh chấp lao động là việc các tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tục luật định nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tập thể người lao động về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động, khôi phục các quyền và lợi ích họp pháp đã bị xâm hại, xoá bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động, duy trì và củng cố quan hệ lao động, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất.

Giải quyết tranh chấp lao động theo nghĩa rộng hơn là những hoạt động được tiến hành nhằm dàn xếp những bất ổn trong quan hệ lao động, với mục đích để các bên có thể tiếp tục thực hiện quan hệ lao động một cách hài hoà. Sự dàn xếp này có thể do các bên tự thương lượng, thỏa thuận hay có sự tham gia của một chủ thể trung gian hoà giải, đưa ra phán quyết về các nội dung tranh chấp.

Như vậy, nếu theo nghĩa hẹp, định nghĩa về giải quyết tranh chấp lao động mới tập trung nhiều vào vai trò của bên thứ ba là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động mà chưa đề cập tới vai trò của chính các chủ thể tranh chấp. Ở phạm vi rộng hơn, định nghĩa đã đề cập vai trò của chính các chủ thể trong giải quyết tranh chấp lao động. Việc giải quyết tranh chấp lao động đều phải hướng tới các mục đích cơ bản như: nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động, lợi ích chính đáng của người lao động; củng cố và duy trì quan hệ lao động, phòng ngừa tranh chấp mới phát sinh; góp phần hoàn thiện pháp luật lao động...

2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động

Việc giải quyết tranh chấp lao động phải được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định. Đây chỉnh là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình giải quyết tranh chấp được quy định trong pháp luật các quốc gia. Ở Việt Nam, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động được quy định tại Điều 180 Bộ luật lao động năm 2019. Tinh thần của các nguyên tắc này thể hiện rõ qua các quy định cụ thể về cơ quan giải quyết và trình tự giải quyết tranh chấp lao động.

2.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động

Quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở của sự bình đẳng và tự do thoả thuận giữa các bên thể hiện ở hợp động lao động, thoả ước lao động và các cam kết khác. Trong trường hợp tính ổn định của quan hệ lao động bị phá vỡ, phát sinh những bất đồng, mâu thuẫn và hình thành các tranh chấp, việc giải quyết tranh chấp cũng phải đảm bảo quyền tự quyết định của các bên. Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng ý chí của các chủ thể trong giải quyết các vấn đề của chính họ trong quan hệ lao động. Hon ai hết, các bên tranh chấp là người hiểu rõ yêu cầu, mục đích và khả năng đảm bảo thực hiện của mình trong giải quyết tranh chấp lao động. Mặt khác, nguyên tắc này cũng đảm bảo cho việc giải quyết hài hoà quyền lợi của các bên, phù hợp với điều kiện của mỗi bên, tiến tới ổn định và duy trì quan hệ lao động, ngăn ngừa những diễn biến cũng như hậu quả xấu của tranh chấp lao động. Tôn trọng ý chí và bảo đảm cho các bên tự do thể hiện, đưa ra những quyết định của mình với việc giải quyết tranh chấp được thực hiện trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp. Ngay từ khi phát sinh tranh chấp, các bên tranh chấp đã có thể thực hiện thương lượng giải quyết vụ việc, việc thương lượng được ghi nhận ở tất cả các giai đoạn giải quyết tranh chấp lao động, là căn cứ chấm dứt việc giải quyết vụ việc. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động chỉ giải quyết khi một hoặc hai bên có yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với mỗi loại tranh chấp. Ở nhiều quốc gia, quyền tự quyết định của các bên cũng thể hiện ở việc các bên có thể tự thoả thuận cơ chế giải quyết cho tranh chấp của họ mà không buộc phải áp dụng cơ chế chung theo quy định, trừ khi đó là những tranh chấp thiết yếu hoặc ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia. Ở Việt Nam, pháp luật hiện không quy định và áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận song ừên thực tế, các bên vẫn có thể thực hiện những phương thức giải quyết các mâu thuẫn của mình miễn không vi phạm pháp luật.

>> Xem thêm:  Môi giới việc làm có phải ngành nghề kinh doanh có điều kiện ?

Thực hiện nguyên tắc tôn trọng thương lượng và đảm bảo quyền tự quyết định của các bên tranh chấp thực sự có ý nghĩa đối với việc giải quyết tranh chấp lao động, giúp cho các bên hiểu biết lẫn nhau, giải quyết hài hoà lợi ích của các bên. Nguyên tắc này cũng giúp cho việc giải quyết tranh chấp lao động được nhanh chóng và đơn giản hoá các thủ tục giải quyết và tăng cường cơ hội duy trì quan hệ lao động sau tranh chấp.

2.2 Nguyên tắc coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật

Nhìn chung, đối với các tranh chấp về dân sự nói chung và tranh chấp lao động nói riêng, phương pháp giải quyết tranh chấp đầu tiên được ghi nhận trong các quy định của pháp luật, đó là thương lượng, hoà giải, về bản chất, giải quyết tranh chấp lao động bằng thủ tục hoà giải, trọng tài không chỉ là sự tiếp nối của thương lượng mà còn là những giải pháp tốt nhất để giải quyết tranh chấp lao động, đặc biệt với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. •

Đây là phương thức giải quyết tranh chấp ít tốn kém về mặt thời gian, chi phí. So với phương thức giải quyết tranh chấp tại toà án thì phương thức hoà giải, trọng tài có ưu điểm hơn bởi sau khi giải quyết xong tranh chấp, cơ hội để hai bên tiếp tục duy trì quan hệ, hợp tác với nhau cao hơn. Tuy vậy, trên thực tế, công tác hoà giải chỉ có hiệu quả khi các bên tranh chấp có thiện chí và người hoà giải hiểu biết nội dung mâu thuẫn, mục tiêu của mỗi bên và tôn trọng lợi ích của mỗi bên, lợi ích chung của xã hội. Hoà giải trong trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp thì thường là bước tiếp theo của việc giải quyết bằng thương lượng không thành, song với mục đích làm cho các bên hiểu nhau, hiểu pháp luật để từ đó lựa chọn hướng giải quyết cho phù hợp, đảm bảo duy trì quan hệ lao động sau ttanh chấp nên hoà giải là nguyên tắc xuyên suốt của quá trình giải quyết tranh chấp, có thể được thực hiện ở tất cả các cấp, các giai đoạn giải quyết tranh chấp lao động. Kết quả của hoà giải luôn được tôn trọng và ghi nhận ở các giai đoạn giải quyết tranh chấp lao động.

Trọng tài lao động là phương thức giải quyết tranh chấp lao động với chủ thể bao gồm tập họp các đại diện theo quy định pháp luật.

2.3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật

Giải quyết tranh chấp công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật là yêu cầu đặt ra đối với giải quyết tranh chấp dân sự nói chung. Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các bên và giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.

Tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh chấp lao động tập thể có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của người lao động, ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, phát triển ổn định của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy: là chủ thể trong tranh chấp lao động, người lao động phải đối mặt với sự bất ổn trong quan hệ lao động, ảnh hưởng tới thu nhập, thậm chí có nguy cơ mất việc làm. Với người sử dụng lao động, tranh chấp lao động không chỉ ảnh hưởng tới sự ổn định chung, bầu không khí làm việc mà thái độ của người sử dụng lao động cũng được toàn thể người lao động “theo dõi”, tranh chấp cũng sẽ ảnh hưởng tới cả uy tín, thương hiệu của họ trên thị trường. Vì vậy, giải quyết tranh chấp lao động một cách nhanh chóng, kịp thời có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên tranh chấp, giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với một số tranh chấp, đặc biệt là tranh chấp lao động tập thể và đặc biệt hơn nữa là những tranh chấp lao động tập thể về lợi ích thường là những tranh chấp có tính phức tạp, có sức ảnh hưởng rộng nếu không được giải quyết kịp thời, nhanh chóng, công khai... có thể dẫn đến những hành động phản ứng công nghiệp, ảnh hưởng trật tự, an toàn xã hội. Để giải quyết dứt điểm tranh chấp lao động, hạn chế những ảnh hưởng xấu của tranh chấp lao động thì vấn đề công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật trong giải quyết tranh chấp là điều kiện tiên quyết, trở thành nguyên tắc của giải quyết tranh chấp lao động.

2.4 Nguyên tấc bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quả trình giải quyết tranh chấp lao động

Sự tham gia của đại diện các bên trong giải quyết ữanh chấp chính là một trong những quyền cơ bản của các bên trong quan hệ lao động và đặc biệt có ý nghĩa đối với người lao động. Hơn nữa, sự tham gia của đại diện các bên trong giải quyết tranh chấp lao động cũng chính là sự cụ thể hoá của cơ chế ba bên trong điều chỉnh quan hệ lao động. Vận dụng cơ chể ba bên trong giải quyết tranh chấp lao động không chỉ đáp ứng yêu cầu khách quan của điều chỉnh quan hệ lao động trong điều kiện kinh tế thị trường mà còn góp phần xây dựng quan hệ lao động bình đẳng, môi trường lao động hài hoà, ổn định. Vì vậy, đây được xác định là một ưong những nguyên tắc của giải quyết tranh chấp lao động. Sự tham gia của đại diện các bên thể hiện ở việc tham gia với tư cách là người giải quyết tranh chấp trong thành phần của hội đồng trọng tài lao động, trong quá trình giải quyết tranh chấp, đại diện các bên có quyền tham gia, đưa ra các ý kiến bảo về quyền và lợi ích cho các bên tranh chấp. Việc cung cấp thông tin, tài liệu khách quan của các đại diện trong giải quyết, giúp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động nhanh chóng, chính xác và kịp thời. Tuy nhiên, trên thực tiễn cũng cần phân biệt rõ tư cách tham gia của đại diện các bên trong giải quyết tranh chấp lao động với tư cách đại diện của một bên tranh chấp. Trong thực hiện nguyên tắc này cũng cần chú ý tới xu hướng lạm dụng hoặc ảnh hưởng của đại diện các bên trong giải quyết tranh chấp lao động.

>> Xem thêm:  Hết hạn hợp đồng lao động không ký tiếp thì xử lý như thế nào ? Cách gia hạn hợp đồng lao động ?

3. Các phương thức giải quyết tranh chấp lao động

3.1 Giải quyết tranh chấp lao động thông qua thương lượng trực tiếp giữa các bên

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên trực tiếp gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn, bất đồng mà không cần sự tham gia của bên thứ ba. Đây là phương thức có tính “truyền thống”, thường được tính đến đầu tiên khi các bên có nhu cầu giải quyết tranh chấp. Đây cũng là phương thức được áp dụng phổ biến ở tất cả các loại tranh chấp và được ghi nhận ở tất cả các giai đoạn giải quyết tranh chấp. Theo quy định pháp luật hiện hành, thương lượng còn được xác định là một nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động. Theo đó, giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng được coi là bước đầu tiên trước khi các bên lựa chọn hoặc phải tham gia vào một phương thức giải quyết tranh chấp mới. Trước nhũng ưu điểm của mình như ít tốn kém về thời gian, về tài chính, phức tạp về thủ tục, trình tự và hiệu quả khả thi của kết qủa thương lượng, pháp luật khuyến cáo cảc bên sử dụng phương thức này trước khi quyết định sử dụng các phương thức giải quyết khác.

Thực chất của thương lượng chính là tự giải quyết vấn đề, các bên đưa ra đề xuất và tự quyết định giải pháp cho các vấn đề mà không có sự trợ giúp của chủ thể thứ ba. Trong quá trình thương lượng, những người tham gia thương lượng sẽ cùng nhau xem xét và bàn bạc về các khả năng để đi đến giải quyết các vấn đề bất đồng bằng cách do chính họ lựa chọn. Giải quyết tranh chấp lao động bằng thương lượng tạo ra sự mềm dẻo, linh hoạt do không bị ràng buộc bởi thủ tục pháp lí hay những quy định cứng nhắc về điều kiện chủ thể, trình tự, thủ tục... Đây chính là ưu điểm lớn nhất của thương lượng so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác. Hơn thế nữa, nhờ đề cao sự tự do ý chí, quyền tự định đoạt của các bên nên nếu thương lượng thành công, khả năng tự giác chấp hành của các bên là rất cao. Mặc dù thương lượng là phương thức thường được tính đến đầu tiên và được ghi nhận ở tất cả các giai đoạn giải quyết tranh chấp song cũng cần lưu ý, trong quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, thương lượng không phải là thủ tục bắt buộc đầu tiên. Các bên cũng có thể bỏ qua bước thương, lượng để yêu cầu giải quyết tranh chấp theo thủ tục luật định.

3.2 Giải quyết tranh chấp lao động thông qua hoà giải

Nếu như thương lượng trực tiếp chỉ có hai bên chủ thể với sự tự do ý chí thì hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba. Hoà giải chính là quá trình các bên tranh chấp tự thương lượng với sự giúp đỡ của người thứ ba trung lập để giải quyết tranh chấp lao động phát sinh giữa họ. Người thứ ba trung lập căn cứ vào tình tiết cụ thể và điều kiện của các bên để giúp các bên đạt được một thoả thuận có thể chấp nhận được. Trong quá trình hoà giải, người thứ ba có quyền điều khiển, kiểm soát hoạt động của các bên, đưa ra chỉ dẫn, gợi ý về mặt nội dung để các bên lựa chọn và cùng quyết định. Không chỉ vậy, người hoà giải còn có trách nhiệm giúp đỡ các bên cả về thủ tục, về tinh thần, thái độ tham gia giải quyết. Không có quyền áp đặt ý chí, không mang tính quyền lực, không ra quyết định về vụ việc song hoà giải có thể có mức độ can thiệp khác nhau, chi phối tới ý chí của các bên tranh chấp.

Người thứ ba thực hiện hoà giải có thể được xác định là cá nhân hoặc tổ chức, không có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và có hiểu biết về vấn đề lao động - xã hội, pháp luật cũng như có kĩ năng hoà giải. Trong trường hợp này, hoà giải với tư cách là một phương thức, một quá trình độc lập trong giải quyết tranh chấp lao động với sự tham gia của hoà giải viên lao động với những yêu cầu cụ thể. Song cũng cần nhận thức hoà giải cũng được thực hiện như là phương thức kết hợp trong giải quyết tranh chấp lao động được thực hiện ở các cơ quan tài phán lao động với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau như toà án, trọng tài.

Với vai trò quan trọng của mình và là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và hiệu quả, hoà giải tranh chấp lao động thường được xác định là một bước, một thủ tục trong trình tự giải quyết tranh chấp lao động.

3.3 Giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục trọng tài

Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong hoà bình với sự tham gia của bên thứ ba khách quan, công bằng, chính trực bằng việc đưa ra quyết định về vụ việc đối với cả hai bên hanh chấp. Phán quyết của trọng tài có thể mang tính khuyến nghị hoặc bắt buộc các bên có nghĩa vụ thực hiện tuỳ quy định pháp luật mỗi quốc gia. Ở Việt Nam trước đây, trọng tài lao động lại là phương thức giải quyết bắt buộc trong giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích (Điều 206 Bộ luật lao động năm 2012). Hiện nay, việc yêu cầu trọng tài giải quyết tranh chấp là hoàn toàn tự nguyện, trên cơ sở sự thoả thuận của các bên tranh chấp (Các điều 189,193,197 Bộ luật lao động năm 2019).

>> Xem thêm:  Điểm mới về giải quyết tranh chấp lao động áp dụng từ năm 2021

Khác với thương lượng và hoà giải, trọng tài lao động được xếp vào hệ thống tài phán ở các quốc gia bởi xác định quá trình trọng tài lao động là quá trình ra quyết định về vụ tranh chấp đã thụ lí. Nếu như ở các phương thức thương lượng, hoà giải kết quả của quá trình giải quyết tranh chấp lao động phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của các bên tranh chấp, thì ở trọng tài, ngoài việc mềm dẻo theo yêu cầu, điều kiện của các bên thì trọng tài còn có quyền quyết định về vụ việc, quyết định của trọng tài có thể có giá trị chung thẩm tuỳ thuộc pháp luật mỗi quốc gia. về tổ chức, trọng tài lao động được quy định với mô hình một tổ chức hội đồng trọng tài với chủ tịch, thư kí và linh hoạt với các thành viên, là số lẻ và quyết định theo đa số. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài lao động ở Việt Nam trước đây chỉ đặt ra với tranh chấp lao động về lợi ích và việc giải quyết của trọng tài được cho là không “nguyên nghĩa”, thể hiện ở việc chỉ chú trọng hoà giải, hỗ trợ các bên tự thương lượng và cuối cùng là ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các bên hoặc biên bản hoà giải không thành mà không có quyết định về nội dung vụ việc. Hiện nay, theo Bộ luật lao động năm 2019, Ban trọng tài do Hội đồng trọng tài thành lập có thẩm quyền ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp, đồng thời, thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Hội đồng trọng tài lao động bao gồm cả tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể (Các điều 189,193,197 Bộ luật lao động năm 2019). Đây là điểm thay đổi tiến bộ trong quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động.

3.4 Giải quyết tranh chấp lao động tại toà án

Giải quyết tranh chấp lao động tại toà án là phương thức giải quyết do toà án, với tư cách là cơ quan tài phán mang quyền lực nhà nước tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định và phán quyết được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước. Đây là phương thức được tiến hành theo thủ tục tố tụng chặt chẽ, thực hiện bởi hệ thống toà án nhân dân là cơ quan nằm trong hệ thống các cơ quan tư pháp, nhân danh nhà nước, bằng pháp luật giải quyết các tranh chấp nói chung và tranh chấp lao động nói riêng. Vì vậy, phương thức này thích hợp với những tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể về quyền với những thoả thuận được xác định. Nếu như kết quả thương lượng, biên bản hoà giải thành hay thậm chí cả kết quả giải quyết của trọng tài lao động (ở Việt Nam) đều không được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước thì đây lại là một ưu điểm riêng của phương thức này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như giải quyết dứt điểm vụ tranh chấp lao động. Tuy vậy, giải quyết tranh chấp lao động tại toà án cũng có những hạn chế như thời gian giải quyết có thể kéo dài với nhiều cấp xét xử theo thủ tục tố tụng, chi phí tốn kém với lệ phí, thù lao cho người đại diện bảo vệ quyền và lợi ích (nếu cần), căng thẳng cho quan hệ lao động sau khi giải quyết... Cũng vì vậy, giải quyết tranh chấp lao động tại toà án thường là thủ tục cuối cùng sau khi các tranh chấp đã được giải quyết ở các giai đoạn khác mà không đạt kết quả, trừ một số trường hợp nhất định, các bên có thể bỏ qua các bước giải quyết trước đó mà đến thẳng toà án yêu cầu giải quyết.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật lao động về cách thức giải quyết tranh chấp lao động theo quy định hiện nay... Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tranh chấp lao động là gì ? Quan hệ pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động ?