1. Tranh chấp lao động là gì? Khái quát chung về tranh chấp lao động

- Khái niệm về tranh chấp lao động: Tại Việt Nam, vấn đề tranh chấp lao động đã được quy định trong Sắc lệnh 29-SL ngày 12/3/1947 dưới thuật ngữ “việc kiện tụng”, “việc xích mích”. Điều 179 BLLĐ 2019 quy định: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Các loại tranh chấp lao động bao gồm:

"a) Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại;

b) Tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.”

- Đặc trưng của tranh chấp lao động: Tranh chấp lao động có các đặc điểm khác với các loại tranh chấp khác như tranh chấp dân sự, tranh chấp trong kinh doanh thương mại, tranh chấp đất đai,... do tính chất đặc biệt của quan hệ lao động nên tranh chấp lao động có các đặc trưng sau:

+ Một là, tranh chấp lao động luôn phát sinh, tồn tại gắn liền với quan hệ lao động.

+ Hai là, tranh chấp lao động không chỉ bao gồm những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, mà còn bao gồm những tranh chấp về lợi ích giữa hai bên chủ thể trong quan hệ lao động.

+ Ba là, tranh chấp lao động là loại tranh chấp mà quy mô và mức độ tham gia của các chủ thể có thể làm thay đổi cơ bản tính chất và mức độ tranh chấp.

+ Bốn là, tranh chấp lao động là loại tranh chấp có tác động trực tiếp và rất lớn đến bản thân và gia đình người lao động, nhiều khi còn tác động rất lớn đến an ninh công cộng, đời sống kinh tế và chính trị toàn xã hội

- Phân loại tranh chấp lao động

Căn cứ theo Điều 179 BLLĐ 2019 đã phân chia các tranh chấp lao động thành tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Căn cứ vào tính chất của tranh chấp có thể chia tranh chấp lao động thành tranh chấp về quyền và tranh chấp về lợi ích. Tranh chấp về quyền là những tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã được pháp luật lao động quy định.

Ngoài các cách phân loại trên, tranh chấp lao động còn có thể được phân loại căn cứ vào nội dung tranh chấp (tranh chấp về tiền lương, thời gian làm việc, kỷ luật lao động...) hoặc quan hệ phát sinh tranh chấp (tranh chấp trong quan hệ lao động, trong quan hệ học nghề, trong quan hệ bảo hiểm xã hội...) hoặc khu vực tranh chấp (tranh chấp trong khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài...).

2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Hòa giải viên

Hòa giải viên lao động là người được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 5 năm để hòa giải tranh chấp lao động và tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề theo quy định của pháp luật. Hòa giải viên phải có tiêu chuẩn:

+ Là công dân Việt Nam, cónăng lực hành vi dân sự đầy đủ, có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt;

 + Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành án;

+ Am hiểu pháp luật lao động và pháp luật có liên quan;

+  Có 3 năm làm việc trong lĩnh vực có liên quan đến quan hệ lao động, có kỹ năng hòa giải tranh chấp lao động.

- Thẩm quyền, trình tự và thủ tục bổ nhiệm hòa giải viên lao độngđược quy định như sau:

+ Hòa giải viên lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm.

+ Trình tự, thủ tục bổ nhiệm hòa giải viên lao động:

  • Tự đăng ký hoặc được Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, công đoàn cấp huyện, công đoàn khu công nghiệp, khu chế xuất giới thiệu tham gia dự tuyển hòa giải viên lao động;
  • Hồ sơ dự tuyển hòa giải viên lao động bao gồm: (Đơn dự tuyển hòa giải viên lao động; Sơ yếu lý lịch; Giấy chứng nhận sức khỏe; Bản sao các văn bằng, chứng chỉ (nếu có); Văn bản giới thiệu tham gia dự tuyển của cơ quan, tổ chức.);
  • Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn nhận hồ sơ, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội lập danh sách người đạt tiêu chuẩn báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện;
  • Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm hòa giải viên lao động, đồng thời gửi Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội để thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; v) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị bổ nhiệm hòa giải viên lao động của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định, đồng thời gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã đề nghị bổ nhiệm hòa giải viên lao động;
  • Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định bổ nhiệm hòa giải viên lao động;
  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định bổ nhiệm hòa giải viên lao động của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công khai danh sách hòa giải viên lao động để người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và người lao động biết.

Hòa giải viên lao động miễn nhiệm thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Có đơn xin thôi tham gia hòa giải viên;

+ Không hoàn thành nhiệm vụ hòa giải;

+ Có hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng uy tín, thẩm quyền, trách nhiệm của mình làm phương hại đến lợi ích của các bên hoặc lợi ích của Nhà nước trong quá trình hòa giải hoặc từ chối nhiệm vụ hòa giải từ 2 lần trở lên khi được cử tham gia giải quyết tranh chấp lao động hoặc tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề mà không có lý do chính đáng.

- Thẩm quyền, trình tự và thủ tục miễn nhiệm hòa giải viên lao động:

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định miễn nhiệm hòa giải viên lao động theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội;

+ Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội căn cứ đơn xin thôi tham gia hòa giải viên hoặc mức độ không hoàn thành nhiệm vụ hoặc hành vi vi phạm pháp luật của hòa giải viên lao động báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc miễn nhiệm hòa giải viên lao động.

3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài lao động

- Về thẩm quyền thành lập: do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập.

Về thành phần: Hội đồng trọng tài lao động gồm Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về lao động, thư ký Hội đồng và các thành viên là đại diện công đoàn cấp tỉnh, tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Hội đồng trọng tài lao động có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động ở địa phương. Số lượng thành viên của Hội đồng trọng tài lao động là số lẻ và không quá bảy người.

- Nguyên tắc hoạt động: Hội đồng trọng tài lao động quyết định phương án hòa giải theo nguyên tắc đa số, bằng cách bỏ phiếu.

- Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hòa giải các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và tranh chấp lao động tập thể xảy ra tại các đơn vị sử dụng lao động không được định công.

4. Tòa án

- Tòa án là một hình thức xét xử mang tính chất đặc thù trong cơ chế giải quyết tranh chấp lao động. Tòa án lao động thuộc Tòa án nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng đảm nhiệm việc xét xử các vụ án laođộng đã được hòa giải viên, Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết nhưng các bên tranh chấp không đồng ý khởi kiện ra Tòa án và giải quyết các cuộc đình công.

- Tòa án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn theo pháp luật quy định.

- Tòa án nhân dân giải quyết những tranh chấp lao động cá nhân sau đây mà không bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở:

+ Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

+ Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động.

+ Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động.

+ Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

+ Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5. Thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động

5.1. Đối với tranh chấp lao động cá nhân

- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân: Hòa giải viện lao động; Tòa án nhân dân,

- Trình tự, thủ tục: Hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải tranh chấp lao động cá nhân. Thời hạn hòa giải là không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải. Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải. Hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

+ Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để hai bên xem xét.

+ Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hòa giải, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

+ Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hòa giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động. Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

+ Trong trường hợp hòa giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

5.2. Đối với tranh chấp lao động tập thể

- Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp gồm: Hòa giải viên lao động; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; Tòa án nhân dân.

- Hòa giải viên tiến hành hòa giải tranh chấp lao động. Trường hợp hòa giải không thành thì trong biên bản phải nêu rõ loại tranh chấp lao động tập thể. Trong trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết đối với trường hợp tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền tiến hành giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền theo quy định sau đây:

+ Thời hạn giải quyết trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết.

+ Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền phải có đại diện của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện mời đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan tham dự phiên họp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác để xem xét giải quyết tranh chấp lao động.

Sau khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết mà các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn giải quyết theo quy định mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì mỗi bên có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết.

- Đối với tranh chấp tập thể về lợi ích: Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm: Hòa giải viên lao động; Hội đồng trọng tài lao động.

- Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hòa giải vụ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích theo quy định sau đây:

+ Thời hạn hòa giải trong bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải.

+ Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích phải có đại diện của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan tham dự phiên họp.

Hội đồng trọng tài lao động có trách nhiệm hỗ trợ các bên tự thương lượng, trường hợp hai bên không thương lượng được thì Hội đồng trọng tài lao động đưa ra phương án để hai bên xem xét. Trong trường hợp hai bên tự thỏa thuận được hoặc chấp nhận phương án hòa giải thi Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành đồng thời ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Trường hợp hai bên không thỏa thuận được hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản có chữ ký của các bên có mặt, của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng trọng tài lao động.Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 1 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

Sau thời hạn 5 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để định công. Trong trường hợp Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành thì sau thời hạn 3 ngày, tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!