1. Một số khái niệm chung

Một số khái niệm chung được quy định tại Điều 3 Luật chất lượng hàng hóa 2007, cụ thể:

Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng.

Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị.

Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

Người sản xuất là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là tổ chức, cá nhân tổ chức và thực hiện việc sản xuất

Người nhập khẩu là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là tổ chức, cá nhân tổ chức và thực hiện việc nhập khẩu

Người xuất khẩu là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là tổ chức, cá nhân tổ chức và thực hiện việc xuất khẩu

Người bán hàng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là tổ chức, cá nhân tổ chức và thực hiện việc bán hàng, cung cấp dịch vụ.

2. Khái niệm “hàng hóa có khuyết tật”

Khác với BLDS năm 2015 thì Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) năm 2010 không sử dụng cụm từ “hàng hoá không đảm bảo chất lượng” mà đề cập thẳng đến “hàng hóa có khuyết tật”. Theo khoản 3 Điều 1 Luật BVQLNTD quy định “Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng”. Hàng hóa có khuyết tật bao gồm: Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho NTD.

Không những từ trong định nghĩa mà trong việc quy định vấn đề bồi thường thiệt hại cũng có một sự bất hợp lý. Nếu như BLDS quy định chủ thể kinh doanh hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì phải bồi thường thì Luật BVQLNTD quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD.

Như vậy, hàng hóa có khuyết tật và hàng hóa không đảm bảo chất lượng không giống nhau và ngữ nghĩa của hai cụm từ “Khuyết tật” và “Không đảm bảo chất lượng” cũng không đồng nhất với nhau. Điều này cho thấy, có một sự không thống nhất giữa BLDS và Luật BVQLNTD.

3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Thứ nhất, thiệt hại do vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.

Thứ hai, thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thuộc trường hợp các thiệt hại phải bồi thường do hàng hóa không bảo đảm chất lượng, trừ trường hợp các bên tranh chấp có thỏa thuận khác.

4. Căn cứ áp dụng chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng

Theo pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng khi thỏa mãn 4 căn cứ áp dụng sau:

Có hành vi vi phạm

Có thiệt hại thực tế xảy ra

Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế xảy ra

Có lỗi

Dựa trên cơ sở đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng áp dụng và quy định bổ sung một số ngoại lệ.

Thứ nhất, trách nhiệm chứng minh lỗi được xây dựng dựa trên chính sách “laissez faire policy”, tức là mỗi cá nhân nên chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình, với sự tác động chút ít từ phía Nhà nước nếu có thể. Về nguyên tắc, trách nhiệm chứng minh lỗi thuộc về “bên yêu cầu”, do vậy đối chiếu vào trường hợp này là người tiêu dùng phải chịu thiệt hại nên có yêu cầu bồi thường.

Tuy nhiên, đặc thù của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là giải phóng người tiêu dùng khỏi trách nhiệm chứng minh lỗi. Đặc biệt, vấn đề chứng minh lỗi của nhà sản xuất, nhà cung ứng hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng gần như là bất khả thi. Vô hình chung, việc chứng minh yếu tố lỗi lại đe dọa đến quyền hưởng quyền của người chịu thiệt hại, tức người tiêu dùng - bên yếu thế trong quan hệ tiêu dùng.

Thứ hai, căn cứ thiệt hại thực tế xảy ra. Trong thực tiễn áp dung, không phải lúc nào thiệt hại cũng phát sinh ngay sau khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Nước tương có chứa chất 3-MCPD có khả năng gây nhiễm độc gen trên cơ thể sống, sữa có chất melamine sử dụng trong thời gian dài có thể làm hỏng thận và gây ung thư ruột là những sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật. Những hậu quả, thiệt hại này khoa học hoàn toàn có thể chứng minh được là sẽ xảy ra, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng dù ít hay nhiều.

Tuy nhiên, hậu quả mà hàng hóa có khuyết tật đó gây nên không phát sinh ngay tại thời điểm người tiêu dùng sử dụng sản phẩm mà phải qua một thời gian dài, có khi đến vài năm hay vài chục năm sau thiệt hại mới bộc phát. Liệu người tiêu dùng có phải chờ đến lúc có thiệt hại thực tế xảy ra mới có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại? Liệu đến lúc người tiêu dùng bồi thường thiệt hại, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa còn tồn tại trên thị trường? Vì vậy, theo quan điểm cá nhân của tác giả, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần tiếp tục bổ sung một ngoại lệ trong việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng.

Đó là áp dụng ngay cả khi thiệt hại chưa xảy ra trên thực tế, chỉ cần có căn cứ chứng minh chắc chắn thiệt hại đó sẽ xảy ra. Từ việc tập hợp các khoản bồi thường thiệt hại do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng, Nhà nước có thể lập quỹ để giải quyết một số vấn đề về sức khỏe cộng đồng người tiêu dùng.

Đề xuất trên không làm mất đi tính thống nhất giữa pháp luật dân sự và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà đang tạo ra “những ngoại lệ này cần được áp dụng và thể hiện công bằng trong pháp luật và điều quan trọng hơn là không vì thế mà nó làm xoay chuyển công lý”.

5. Miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng

Quan hệ tiêu dùng là quan hệ bất cân xứng. Do vậy, dựa trên cốt lõi là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng xây dựng các quy định pháp luật mang tính ngoại lệ nhằm điều chỉnh lại tính cân bằng của quan hệ này. Tuy nhiên, không vì thế mà pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ bảo vệ quyền, lợi ích của người tiêu dùng mà gạt đi những quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của doanh nghiệp sản xuất, cung cấp hàng hóa.

Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất là quy định về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng. Việc quy định các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng không chỉ đảm bảo quyền lợi của các bên, bảo đảm sự tự nguyên thỏa thuận của các bên trong quan hệ dân sự mà còn là yếu tố thúc đẩy tính chủ động tự vệ của người tiêu dùng.

Một mặt, người sản xuất phải đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình; người nhập khẩu, người phân phối sản phẩm phải nhận thức được tầm quan trọng của việc lựa chọn hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo về chất lượng thì người tiêu dùng cũng cần có hành trang cơ bản để hiểu rõ quyền, lợi ích chính đáng của bản thân để tự bảo vệ và để có được những lựa chọn tiêu dùng thông thái trong một thị trường nhiều mặt hàng cạnh tranh phong phú như hiện nay.

Nguyên lý chung của việc miễn trừ là những trường hợp nhà sản xuất không biết và đồng thời không thể biết về khuyết tật và tính mất an toàn trong sản phẩm, hàng hóa của mình. Theo đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định 1 trường hợp miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá; Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007 quy định 7 trường hợp miễn trừ trách nhiệm bồi thường đối với người sản xuất, người nhập khẩu và 6 trường hợp miễn trừ đối với người bán hàng .

Trong các trường hợp được miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại nêu trên, tác giả tập trung vào trường hợp miễn trừ trách nhiệm do rủi ro về trình độ khoa học phát triển.

Đầu tiên là thời điểm xác định mối quan hệ giữa khuyết tật của hàng hóa với trình độ khoa học, kỹ thuật. Theo Điều 24 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thời điểm được xác định là “tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng” trong khi Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007 lấy thời điểm là “tính đến thời điểm hàng hoá gây thiệt hại” . Trong trường hợp này, quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa thể hiện chức năng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tốt hơn vì nếu sau khi sản phẩm được đưa vào lưu thông, thương nhân phát hiện hay buộc phải phát hiện hàng hóa của mình sản xuất có nguy cơ gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải thu hồi sản phẩm và bồi thường thiệt hại. Có như vậy, thương nhân mới có trách nhiệm hơn đối với hàng hóa của họ, đồng thời hạn chế được rủi ro cho người tiêu dùng.

Bên cạnh đó, “trình độ khoa học, kỹ thuật” trong Điều 24 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một thuật ngữ khá chung chung. Với quy định như vậy, có thể hiểu trình độ khoa học, kỹ thuật là trình độ phát triển của khu vực nơi sản xuất, cung ứng hàng hóa; hoặc trình độ phát triển khoa học công nghệ của đất nước hay của thế giới. Cách hiểu khác nhau có khả năng dẫn tới việc người thực thi pháp luật đưa ra phán quyết khác nhau đối với các trường hợp có tính chất tương tự, không đảm bảo tính thống nhất của pháp luật cũng như quyền, lợi ích chính đáng của các bên đương sự. Trong khi đó, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa quy định cụ thể là “trình độ khoa học, công nghệ của thế giới”.

Từ góc độ khác, trước những rủi ro không thể biết, không thể phát hiện được do trình độ khoa học phát triển, người tiêu dùng vẫn được xem là đối tượng yếu thế hơn so với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Do vậy, quy định về miễn trách nhiệm trong trường hợp này có lẽ đang đẩy sự rủi ro, bất lợi sang cho phía người tiêu dùng. Vì vậy, quy định này có phần làm giảm đi tinh thần của pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế.

Như vậy, bồi thường thiệt hại (có hay không, ở mức độ nào) phụ thuộc hoàn toàn vào sự nhận thức về việc bị vi phạm của người tiêu dùng và sự thỏa thuận của đôi bên. Vì vậy, hoàn thiện chế định “trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra” là biện pháp tối ưu để người tiêu dùng tự bảo vệ chính mình trong một mối quan hệ không ngang sức với thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.