Luat Minh Khue

Thỏa thuận về bồi thường khi cố ý gây thương tích như thế nào ?

Quy định của pháp luật hiện nay về mức bồi thường đối với hành vi cố ý gây thương tích cho người khác ? Sau bồi thường thì có bị khởi tố/truy cứu trách nhiệm hình sự nữa không ? Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về mức bồi thường thiệt hại khi cố ý gây thương tích và các vấn khác:

1. Thỏa thuận về bồi thường khi cố ý gây thương tích như thế nào ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về mức bồi thường thiệt hại khi cố ý gây thương tích.

Luật sư tư vấn:

Mức xử phạt vi phạm hành chính căn cứ theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;
b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

...
c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;
3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;
4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ;
...
5. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm g Khoản 2; Điểm a, l, m Khoản 3 và Khoản 4 Điều này."

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội quy định:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Thưa luật sư, Tôi có người em bị người khác đánh gây thương tích trong tranh chấp vườn do không thỏa thuận bồi thường ở xã . Nên phải làm đơn ra tòa án dân sự để xử . Vậy ra tòa thì em tôi được hồi thường như thế nào tỷ lệ thương tật là 9%

Lúc này em bạn sẽ được bồi thường theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự.

Thưa luật sư, thằng em của em có đi chơi với bạn cùng lứa (đi hái mít và có cầm theo dao để hái) đánh nhau với bạn cùng chơi nhưng vô tình chém bạn đứt gân chân.nhung do bên kia đánh trước, thằng em của em tức quá mới đánh lại.giờ gđ bên đòi bồi thường nhung số tiền đó đối với gđ em quá lớn, gđ em không đủ khả năng. giờ gđ bên kia đòi kiện. thằng e của e sẽ bị xử phạt ntn.nó chưa đủ 16 tuổi

Trường hợp này em bạn có dùng vũ khí nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Hình phạt cụ thể phụ thucọ vào tỷ lệ thương tật mà em bạn gây ra cho người kia. Vì em bạn chưa đủ 16 tuổi nên hình phạt được áp dụng theo Điều 74 Bộ luật hình sự:

"Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định."

Bạn có thể căn cứ vào Điều 104 Bộ luật hình sự để xác định khung hình phạt của em bạn.

Thưa luật sư, bạn em đánh nhau trong đó em cũng có mặt khi lên ca phường thì họ giữ mỗi xe em. em hỏi thì họ bảo t thích có được k? nói em là cầm cmnd lên rồi lấy, khi lấy xe em thì k có lập biên bản gì hết.. sáng hôm sau e lên có cầm cmnd thì vẫn không cho em lấy. vậy e phải làm sao ạ?

Trường hợp này xe của bạn có thể là phương tiên gây án nên cơ quan công an giữ lại để điều tra. Tuy nhiên việc giữ tài sản phải có biên bản cụ thể. Vậy ở đây cơ quan công an đã thực hiện sai về trình tự, thủ tục. Bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi lên Tòa án nhân dân cấp huyện về hành vi của cơ quan công an để xác minh rõ về xe của bạn trong trường hợp này.

Thưa luật sư, hiện tại tôi đang mang bầu tháng thứ 9.do mâu thuẫn trong gia đình nhất là từ phía chồng tôi.cho nên gần đây chồng tôi có hay chửi bới và đánh đập tôi rất dã man.lần gần đây nhất là ngày 6thang 9 vừa qua chồng tôi có tát tôi rất nhiều vào mặt và đuổi mẹ con tôi ra ngoài trong khi trời đã về đêm và đang mưa to.mẹ con tôi k biết đi đâu và đã đi về nhà ngoại trong đêm đó.cho tôi hỏi chồng tôi sẽ phải chịu hình phạt như thế nào ve hành vi này?
Thưa luật sư, Em kết hôn từ tháng 5 năm 2015 đến nay cũng đc hơn 1 năm rồi.vợ chồng e đã có với nhau 1 bé trai 11 tháng.Nhưng từ khi kết hôn xong vơ chồng e thường xuyên xích míc mâu thuẫn với nhau về vấn đề gia đình và tiền bạc.tính tình chồng e gia trưởng hay nổi nóng và nhiều lần cãi nhau đã đánh đập em dù là trong tháng sau sinh của e.em đã nhẫn nhịn đê vơ chồng hoà thuận vi con nhưng không được.càng ngày càng nặng nề.gần đây em có về quê chơi lại có vấn đề mâi thuẫn xảy ra chồng e đã đánh đập e đuổi mẹ con em về nhà ngoại.Vậy em có thể khởi kiện chồng được không hay làm đơn ly hôn như thế nào ?

Trường hợp này bạn có thể làm đơn đơn phương ly hôn với chồng bạn. mẫu đơn bạn tham khảo TẠI ĐÂY.

Bạn cũng có thể làm đơn khởi kiện chồng bạn vì hành vi xâm phạm sức khỏe, dang dự, nhân phẩm của bạn.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Thưa luật sư, lúc 08h30 Bạn em đi xe máy có va chạm với 1 người đi bộ và người đi bộ đó bị thương. Bạn em đã đưa nạn nhân đi viện nhưng sợ người nhà nạn nhân đánh nên bạn em đã bỏ trốn. 21h bạn em đã đi trình báo công an. Vậy xin luật sư cho em biết là bạn em đã vi phạm vào điều bao nhiêu và bị xử lý hành chính thế nào ạ?

Điều này phụ thuộc vào tỷ lệ thương tích của người bị tai nạn. Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm."

Nếu chưa cấu thành tội phạm hình sự thì bạn bạn có trách nhiệm bồi thường vì xâm phạm sức khỏe của người đó. Ngoài ra về mức xử phạt vi phạm hành chính thì phụ thuộc vào lỗi cụ thể mà bạn bạn mắc phải.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay nội dung liên quan: Mức tiền bảo lãnh để được tại ngoại đối với tội cố ý gây thương tích?

2. Bồi thường thiệt hại về tội cố ý gây thương tích ?

Thưa luật sư! Chiều ngày 02/03/2015, tôi là P và H có nhậu chung tại phòng trọ của Đ và đã có xích mích. Đến sáng ngày 03/03/2015 H có thủ trong người con dao thái và đi kiếm tôi để thanh toán nhưng H lại không biết phòng trọ của tôi nên đã nhờ D (bạn tôi) gọi điện cho tôi đế phòng trọ của D để gặp H. Khi tôi vừa đến cửa thì H ở trong phòng bước ra dùng con dao thái mà hắn đã thủ sẵn trong người đâm tôi. Do quá bất ngờ nên tôi đã bị H đâm 5 nhát liền làm thủng 2 phổi, đứt động mạch thận trái, thủng cơ hoành trái, tổn thương đám rối thần kinh nách trái, tổn thương động mạch vùng cánh tay trái.

Do được mọi người đưa đi cấp cứu kịp thời nên đến tháng 9/2015 tôi đã qua cơn nguy kịch và được công an quận đưa đi giám định sức khỏe tại trung tâm giám định pháp y. Kết quả giảm định cho thấy thương tật đã làm tôi bị giảm 64 % sức khỏe. Trong suốt thời gian điều trị thì H và gia đình H không hề lo cho tôi về vật chất cũng như tình thần. Nay tôi muốn yêu cầu H phải bồi thường thiệt hại mà H đã gây cho tôi. - Mong luật sư tư vấn cho tôi:

1. Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Các khoản mà H phải bồi thường

3. Mức độ mà H phải bồi thường.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Bồi thường thiệt hại về tội cố ý gây thương tích?

Luật sư tư vấn theo luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục hỏi đáp của công ty, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, về vấn đề bồi thường thiệt hại.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 604 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó".

Do có xích mích từ trước nên sáng ngày 03/03/2015 H có thủ trong người con dao thái và đi kiếm bạn để thanh toán nhưng H lại không biết phòng trọ của bạn nên đã nhờ D gọi điện cho bạn đế phòng trọ của D để gặp H. Khi bạn vừa đến cửa thì H ở trong phòng bước ra dùng con dao thái mà hắn đã thủ sẵn trong người đâm bạn. Như vậy, đây là lỗi cố ý đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bạn.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo Điều 605 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường".

Do quá bất ngờ nên bạn đã bị H đâm 5 nhát liền làm thủng 2 phổi, đứt động mạch thận trái, thủng cơ hoành trái, tổn thương đám rối thần kinh nách trái, tổn thương động mạch vùng cánh tay trái. Kết quả giảm định cho thấy thương tật đã làm bạn bị giảm 64 % sức khỏe. Theo Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm như sau:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định".

Như vậy, phải bồi thường đầy đủ các chi phí vật chất cũng như bồi đắp tổn thất về tinh thần cho bạn. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định

Bên cạnh đó, H có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo quy định tại Điều 104 Bộ Luật Hình sự 1999 nếu có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân".

Thứ hai, đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Theo Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: Quyền khởi kiện vụ án.

"Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình".

Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau:

a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện.

3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.

4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án".

Bạn cần thực hiện đúng theo quy định pháp luật về hình thức và nội dung đơn khởi kiện. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của bạn. Trường hợp vì lý do khách quan mà không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp. Bạn bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Vấn đề gửi đơn khởi kiện đến Tòa án tại Điều 190 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

"Điều 190. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;

b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.

Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.

3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.

4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm nội dung: Cố ý gây thương tích đi tù bao nhiêu năm ?

3. Tư vấn về trách nhiệm hình sự và bồi thường về hành vi cố ý gây thương tích ?

Xin chào luật sư! Tôi có một thắc mắc kính mong luật sư tư vấn giúp. Một người thường xuyên uống rượu và hay gây gỗ đánh người, thậm chí còn đánh cả bố vợ, nhiều lần bị pháp luật chấn chỉnh, và đã đưa ra trước dân để nhắc nhở.

Trong một lần nhậu say đã chửi bới gia đình và họ hàng tôi nên bố tôi có nhắc nhở và bị người này đánh trước 2 cái, do bức xúc vì thấy bố bị đánh nên em trai tôi có nổi nóng và đánh lại gây thương tích cho người này ở gò má phải khâu 5 mũi, bầm 01 con mắt nhưng không nguy hiểm cho mắt và bản thân người này tự té vào cửa nên gây vết thương ngoài da ở phía sau gáy. Sau khi được gia đình đưa đi điều trị tại bệnh viện, gia đình khai báo với bác sĩ là bị tai nạn giao thông nên trong hồ sơ bệnh án là do tai nạn giao thông gây ra không phải do gây gỗ gây mất trật tự hay đánh lộn.Và bác sĩ chẩn đoán bị chấn thương sọ não nhưng sau 1 tuần điều trị thì cho xuất viện và không bị sao. Sau đó công an có mời em trai tôi lên làm việc, em trai tôi thành thật khai báo và có nhận lỗi là có đánh người, và hứa sẽ chịu lo chi phí điều trị cho người này.

Tôi có một vài câu hỏi như sau:

- Khi người này kiện em trai tôi vì tội đánh người gây thương tích và đòi bồi thường nhưng hồ sơ bệnh án ghi do bị tai nạn xe thì sẽ xử lý ra sao?

- Nếu bị xử lý thì em trai tôi phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: S.K

Tư vấn về trách nhiệm hình sự và bồi thường về hành vi cố ý gây thương tích ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh khuê, sau đây xin được tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định:

1. Trách nhiệm đối với trường hợp khai sai về hồ sơ bệnh án

Việc gia đình bạn khai báo với bác sĩ là bị tai nạn giaot hông nên hồ sơ bệnh án ghi là “tai nạn giao thông”. Đây là hành vi khai báo gian lận của gia đình quý khách khi đưa người bị hại vào bệnh viện, chính vì vậy bác sĩ không thể xác nhận được việc thương tích của người bị hại là do em trai quý khách gây ra. Nếu như người nhà, người thân thích hoặc hàng xóm làm chứng cho vụ gây gổ, đánh nhau giữa người bị hại và em trai quý khách thì em trai quý khách vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. (Người bị hại phải chứng minh được hồ sơ bệnh án là sai sự thật, phải có người làm chứng cho vụ việc ngày hôm đó).

Trường hợp này, người bị hại vẫn có thể yêu cầu được đi giám định lại tỷ lệ thương tật để xác định trách nhiệm của phía em trai quý khách và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Về trách nhiệm hình sự phải chịu

Việc em trai quý khách đánh người gây thương tích cho đối tượng kia phải khâu 5 mũi, bầm 1 mắt và bị thương sau gáy, gia đình quý khách đã đưa đi bệnh viện và bác sĩ chẩn đoán người này bị chấn thương sọ não (việc người này bị chấn thương sọ não nguyên nhân sâu xa từ việc tấn công của em trai quý khách, chứ không thể nói người này tự ngã được). Như vậy, em trai quý khách đã đủ dấu hiệu cấu thành về tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, cụ thể:

“Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

Do quý khách không nói rõ về phần thương tích của người bị hại là bao nhiêu %, nên chúng tôi không thể xác định rõ mức thương tật này để áp dụng vào khoản nào của Điều 104. Quý khách có thể đối chiếu lại quy định tại Điều 104 để xme xét cụ thể vào trường hợp của mình.

Quý khách cần lưu ý, nếu trường hợp của quý khách thuộc vào khoản 1 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì phía công an chỉ được khởi tố hình sự nếu như có yêu cầu của người bị hại. Căn cứ vào Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự (BLHS) chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần thể chất.”.

Chính vì vậy, nếu em trai quý khách thuộc vào khoản 1 Điều này thì gia đình nên thỏa thuận với người bị hại về việc bồi thường (vật chất và tinh thần) để họ không khởi kiện em trai quý khách ra trước pháp luật. Nếu em trai quý khách thuộc vào khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 104 thì em trai quý khách phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Cố ý gây thương tích sẽ bị xử phạt như thế nào theo Luật hình sự mới ?

5. Cách viết đơn đề nghị bồi thường thiệt hại về việc cố ý gây thương tích

Cho em hỏi về: Cách viết đơn đề nghị bồi thường thiệt hại về việc cố ý gây thương tích. Luật sư cho tôi hỏi về tội cố ý gây thương tích phải chịu những hình phạt gì? Căn cứ tại đâu? Từ bao nhiêu % thì bị phạt?
- Nguyễn Thị Thanh Thu

Trả lời:

Tội cố ý gây thương tích là tội có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm tới khách thể của Luật hình sự bảo vệ đó là tính mạng, sức khỏe của con người.

Hành vi khách quan của tội này là người phạm tội có hành vi tác động đến thân thể của người khác làm cho người này bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe như: Đâm, chém, đấm đá, đốt cháy, đầu độc v.v… nhưng với tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn nên chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khỏe chứ không làm cho nạn nhân bị chết.

Căn cứ xác định trách nhiệm hình sự của tội cố ý gây thương tích được thông qua tỉ lệ thương tật. Tuy nhiên, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này nên nhà làm luật quy định thêm một số trường hợp tuy hành vi cố ý gây thương tích cho người khác có tỉ lệ thương tật dưới mức quy định vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ nhất, Về tội cố ý gây thương tích

Căn cứ Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Nếu tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà có tỉ lệ thương tật từ 11% đến 30% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 BLHS 2015. Nếu tỉ lệ thương tật của người bị hại dưới 11% thì phải thuộc một trong các trường hợp quy định từ Điểm a đến Điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 BLHS 2015.

Nếu tỉ lệ thương tật của người bị hại từ 31% đến 60%; phạm tội hai lần trở lên; tái phạm nguy hiểm; hai nạn nhân trở lên mà mỗi người bị thương tật từ 11% đến 31% hoặc thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS 2015, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 có khung hình phạt từ hai năm đến sáu năm tù.

Nếu tỉ lệ thương tật của người bị hại từ 61% trở lên (không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều134 BLHS 2015) hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỉ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; hoặc từ 31% đến 60% (đối với một người) hoặc từ 11% đến 30% (đối với mỗi người khi gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên) nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 134 BLHS có khung hình phạt từ năm năm đến mười năm, nhẹ hơn so với khoản 3 Điều 104 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009.

Nếu dẫn đến chết nhiều người; gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; tỉ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỉ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 4 Điều 134 BLHS có khung hình phạt từ bảy năm đến mươi bốn năm tù.

Nếu làm làm chết 02 người trở lên hoặc Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Thứ hai, đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

- Mẫu đơn bồi thường thiệt hại

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

ĐƠN YÊU CẦU BỒI THƯỜNG
(đối với cá nhân bị thiệt hại)

Kính gửi: …………………….. (Tên cơ quan có trách nhiệm bồi thường)...............................

Tên tôi là:................................................................................................................................

Địa chỉ:....................................................................................................................................

Theo Quyết định/Bản án số: ………..ngày … tháng … năm … của …………………….. về việc ………………, Tôi đề nghị Quý cơ quan xem xét, giải quyết bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bao gồm các khoản sau:

1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (nếu có)

Tên tài sản:....................................................................................................................................

Đặc điểm của tài sản (hình dáng, màu sắc, kích thước, công dụng, năm sản xuất, xuất xứ tài sản, nơi mua tài sản…):

.......................................................................................................................................................

Tình trạng tài sản (bị phát mại, bị mất, bị hư hỏng):.....................................................................

........................................................................................................................................................

Giá trị tài sản khi mua:...................................................................................................................

........................................................................................................................................................

Giá trị tài sản khi bị xâm phạm:.....................................................................................................

........................................................................................................................................................

Thiệt hại do việc không sử dụng, khai thác tài sản (nếu có):.........................................................

........................................................................................................................................................

(Kèm theo tài liệu chứng minh về tài sản nêu trên nếu có)

Mức yêu cầu bồi thường:...............................................................................................................

........................................................................................................................................................

........................................................................................................................................................

2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (nếu có)

........................................................................................................................................................

........................................................................................................................................................

(Kèm theo tài liệu chứng minh thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút)

3. Thiệt hại khác (nếu có)

.......................................................................................................................................................

........................................................................................................................................................

(Kèm theo tài liệu chứng minh – nếu có)

4. Tổng cộng số tiền đề nghị bồi thường

...............................................................................................................................................

...............................................................................................................................................

Đề nghị Quý Cơ quan xem xét, giải quyết bồi thường cho tôi về những thiệt hại trên theo quy định của pháp luật./.

....., ngày … tháng … năm …….
Người yêu cầu bồi thường
(Ký và ghi rõ họ tên)

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo thêm nội dung: Mức tiền bảo lãnh để được tại ngoại đối với tội cố ý gây thương tích?

6. Tư vấn quy định về tội có ý gây thương tích và mức bồi thường trong trường hợp cố ý gây thương tích ?

Thưa Luật sư! T và Đ là hàng xóm ở sát nhà nhau, vào khoảng 17h30 phút ngày 24/7/2015, có cự cãi nhau về việc mất trộm gà của T. Quá trình cự cãi T có ném tô cơm bằng inox, chai bia về phía Đ nhưng không trúng. Pháp luật quy định thế nào về tội danh này và mức bồi thường theo luật ?

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 104, luật hình sự quy định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư bào chữa tại tòa án ?

Luật sư tư vấn & bào chữa tại tòa án - Ảnh minh họa

XỬ LÝ TRƯỜNG HỢP NGƯỜI BỊ HẠI TỪ CHỐI GIÁM ĐỊNH THƯƠNG TẬT

Trao đổi một số ý kiến về vấn đề người bị hại từ chối giám định thương tật, sức khỏe trong vụ án hình sự

1. Thực trạng việc người bị hại từ chối giám định thương tật, sức khỏe

Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) quy định: “Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” Đó là các tội xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền nhân thân, quyền sở hữu công nghiệp gắn với mỗi cá nhân như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106); Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 108); Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109); Tội hiếp dâm (Điều 111); Tội cưỡng dâm (Điều 113)... Theo quy định nêu trên thì Cơ quan điều tra chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại đối với các tội thuộc khoản 1 các điều luật quy định về tội phạm tương ứng. Quy định này của BLTTHS nhằm bảo vệ bí mật đời tư và danh dự của người bị hại, đều là các tội ít nghiêm trọng nên có thể giải quyết bằng con đường hành chính, dân sự, giảm bớt việc giải quyết bằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự.[1] Quy định về quyền nêu trên cho người bị hại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đã dành cho người bị hại quyền quyết định việc có yêu cầu xử lý hành vi phạm tội của người phạm tội hay không sau khi cân nhắc quyền lợi của mình giữa việc xử lý hành vi phạm tội với việc không xử lý hành vi phạm tội bằng vụ án hình sự. Với quy định này, lợi ích của người bị hại đã được ưu tiên trước lợi ích của xã hội khi xem xét xử lý hành vi phạm tội.

Tuy nhiên, có những hành vi phạm tội có dấu hiệu cấu thành tội phạm khoản 2 các điều luật được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS nhưng người bị hại lại không đồng ý giám định thương tích nên đã gây khó khăn cho công tác đấu tranh trong chống tội phạm; đặc biệt là đối với các tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe của người khác. Sau khi làm rõ và bắt giữ đối tượng về hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho người khác, không phải vụ án nào cũng xử lý nghiêm được đối tượng gây án vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân là người bị hại từ chối giám định hay giám định lại thương tích. Không có kết quả giám định hoặc giám đinh lại thương tích của người bị hại thì việc truy tố đối tượng gây án sẽ rất khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh chống tội phạm.

Việc người bị hại từ chối giám định hoặc giám định lại thương tích có nhiều nguyên nhân. Có trường hợp do giữa người bị hại và đối tượng gây án có mối quan hệ gia đình, họ hàng (anh em ruột, vợ chồng…) hoặc mối quan hệ hàng xóm láng giềng, nên người bị hại đã từ chối giám định thương tích. Có vụ cố ý gây thương tích gây hậu quả nghiêm trọng liên quan đến ổ nhóm mang tính chất xã hội đen, đâm thuê, chém mướn, … nhưng do người gây án và người bị hại đã ngầm thỏa thuận, tự hòa giải bồi thường hoặc người bị hại, người thân của họ bị đối tượng gây án đe dọa, mua chuộc…, họ lo sợ cho tính mạng của bản thân và gia đình nên đã không hợp tác với cơ quan điều tra mà tự thỏa thuận bồi thường. Đồng thời, người bị hại viết đơn từ chối giám định thương tích hoặc kéo dài thời gian đi giám định thương tích để thoái thác, gây khó khăn cho việc xử lý của cơ quan điều tra.[2]

Ví dụ 1: Vụ án “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 27/8/2011 tại khóm 5, phường 7, thành phố S, tỉnh S. Do mâu thuẫn trong việc tranh giành địa bàn làm ăn với nhau, Trần Văn D (sinh năm 1985) dùng mã tấu chém người bị hại là anh Lê Văn T (sinh năm 1988) liên tiếp 04 nhát với các vết thương: 01vết thương vành tai trái; 01 vết thương ở đầu vùng thái dương trái; 01 vết cẳng tay trái và 01 vết ở lưng phải. Khi ra viện, gia đình D đã thỏa thuận bồi thường cho T số tiền 40 triệu nên T đã làm đơn xin bãi nại cho D và làm đơn từ chối giám định. Cơ quan điều tra đã nhiều lần mời T đến trụ sở làm việc và đưa đi giám định nhưng T vẫn không chịu hợp tác với Cơ quan điều tra mà cố tình lánh mặt gây khó khăn cho quá trình điều tra vụ án.[3]

Ví dụ 2: Vụ án “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày ngày 27/4/2010 tại huyện T, tỉnh P. Chiều ngày 27/4/2010, Nguyễn Văn Tịnh cùng em ruột là Nguyễn Minh Vương đến sân bóng chuyền thì gặp Hồ Văn Tân. Do có mâu thuẫn từ trước nên hai bên cãi vã rồi xông vào đánh nhau; Tân bỏ chạy đến nhà bạn là Trương Văn Vũ nói bị anh em Tịnh đuổi đánh nên nhờ Vũ dẫn về. Khi Vũ dẫn Tân đi được khoảng 100m thì gặp anh em Tịnh và Nguyễn Văn Trung. Tân chỉ tay nói có giỏi thì đánh tao nữa đi. Nghe vậy, Tịnh cùng Vương, Trung chạy đến thì Tân và Vũ bỏ chạy. Vũ chạy vào một nhà ở gần đó lấy 01 con dao chạy ra. Thấy Vũ cầm dao, Trung dùng ghế nhựa ném. Vũ cầm dao xông vào chém Tịnh trúng mặt và tay trái. Ngày 28/4/2010, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ thương tích của Tịnh là 19% nhưng cuối bản giám định có ghi thêm: “Nạn nhân đang trong thời gian còn điều trị, do đó chúng tôi chỉ đánh giá tạm thời. Kính đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện T trưng cầu giám định bổ sung sau khi đã điều trị ổn định”. Ngày 01/6/2010 Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định bổ sung đối với Nguyễn Văn Tịnh. Ngày 11/6/2010, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn Tịnh là 13%. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Vũ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS (dùng hung khí nguy hiểm). Ngày 13/01/2011, Tòa án nhân dân huyện T đưa vụ án ra xét xử. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử đã quyết định trưng cầu giám định lại đối với người bị hại. Kết quả giám định lại, tỷ lệ thương tích của bị hại giảm xuống còn 09%. Tuy nhiên, người bị hại đã có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo trước ngày mở phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã căn cứ vào khoản 2 Điều 105 BLTTHS ra quyết định đình chỉ vụ án. Vì cho rằng Tòa án trưng cầu giám định không đúng quy định của BLTTHS (không triệu tập người giám định tham gia tố tụng mà căn cứ khoản 5 Điều 215 BLTTHS để ra quyết định trưng cầu giám định lại là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng) nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P đã kháng nghị Quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án huyện T. TAND tỉnh P chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P, hủy quyết định đình chỉ vụ án của TAND huyện T để điều tra lại. Quá trình điều tra lại, do người bị hại từ chối giám định lại và sau đó bị hại đã không có mặt ở địa phương nên việc giám định chưa thể tiến hành được, đã ảnh hưởng đến việc điều tra, giải quyết vụ án.[4]

Ngoài ra, đối với một số tội khác mà tỷ lệ thương tật là căn cứ để xem xét có khởi tố vụ án hay không cũng gặp khó khăn tương tự. Cụ thể trong các vụ án vi phạm an toàn giao thông mà người bị hại bị thương tích từ chối việc thực hiện giám định thì các CQTHTT không khởi tố vụ án, khởi tố bị can được vì không xác định được tỷ lệ thương tích (Xem Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự).

Ví dụ: Khoảng 4 giờ 45 ngày 11/6/2012, Lưu Hoàng N (xã đội trưởng xã đội V, thị xã C, tỉnh A) điều khiển xe mô tô 67H-6423 hướng từ cầu xã V đến Chợ C, thị xã C. Khi đến khu vực phường C, thị xã C, do thiếu quan sát, không làm chủ tay lái va chạm vào phía sau xe lôi đạp do ông Lưu Văn T đang điều khiển đi cùng chiều phía trước làm xảy ra tai nạn. Hậu quả làm ông T bị chấn thương sọ não, dập não, máu tụ dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện. Theo kết quả xác minh ban đầu, lỗi dẫn đến tai nạn hoàn toàn do N gây ra, hành vi của N có đủ dấu hiệu của hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tuy nhiên, sau khi tai nạn xảy ra, N đã bồi thường tổng chi phí điều trị cho gia đình ông T 170 triệu đồng; ông T cùng gia đình làm đơn bãi nại, không yêu cầu khởi tố hình sự đối với N và từ chối giám định nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý hình sự hành vi vi phạm của N.

2. Một số giải pháp khắc phục được áp dụng trong thời gian qua

Với các bất cập nêu trên, nhiều địa phương đã có các giải pháp nhằm đấu tranh hiệu quả đối với các tội phạm này; cụ thể như sau:

- Xem xét để chuyển hướng tội danh khác mà có dấu hiệu tương tự (như từ tội cố ý gây thương tích sang chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng…); tiến hành áp giải để thực hiện thực hiện thủ tục giám định.

- Kết hợp giữa đánh giá tình hình và đối chiếu với bảng quy định thương tích để khởi tố vụ án. Trường hợp đối tượng gây án sử dụng hung khí nguy hiểm như súng quân dụng, súng săn, súng tự tạo, dao, kiếm, gậy gộc... hoặc có tổ chức…thì thông qua bệnh án của bị hại đã điều trị hoặc đang điều trị tại các Trung tâm y tế từ cấp huyện hoặc cấp tương đương trở lên, đối chiếu với bảng quy định thương tật ban hành kèm theo Thông tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26/7/1995 của Bộ Y tế - Bộ Lao động thương binh và xã hội xác định bước đầu về tỷ lệ thương tật của người bị hại làm căn cứ xử lý; khi xác định đủ 02 điều kiện này thì tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra.

- Vận động, thuyết phục, giáo dục, giải thích cho người bị hại biết quy định của pháp luật để yêu cầu họ phải đi giám định thương tích để xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm pháp luật. Nếu người bị hại vẫn từ chối giám định thì triệu tập họ đến CQTHTT để làm việc; kết hợp với cơ quan giám định kiểm tra, kết luận nhanh về thương tích để làm căn cứ khởi tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc phối hợp với cơ quan giám định đến nhà bị hại để tiến hành giám định.[5]

- Liên ngành tư pháp cấp tỉnh tại một số địa phương đã thống nhất giám định bằng hồ sơ trong trường hợp người bị hại từ chối giám định tổn hại sức khỏe. Nếu đã triệu tập từ hai lần trở lên, đến tận nhà mời và giải thích rõ quyền lợi, nghĩa vụ pháp lý mà người bị hại vẫn từ chối giám định thì có thể giám định bằng hồ sơ (bệnh án và giấy chứng nhận thương tích) mà không cần thiết phải giám định trên người của bị hại [6] để tránh việc bỏ lọt tội phạm .

Với các giải pháp nêu trên, một số địa phương đã khắc phục phần nào khó khăn khi người bị hại từ chối giám định thương tích để đấu tranh có hiệu quả đối với những tội mà tỷ lệ thương tích, tổn hại sức khỏe của người bị hại là căn cứ để khởi tố vụ án. Xem xét các giải pháp trên thấy như sau:

- Giải pháp thuyết phục, vận động, giải thích cho người bị hại chỉ có hiệu quả trong trường hợp người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại đồng ý, chấp nhận đi giám định thương tích. Nếu người bị hại cương quyết không tham gia bất cứ hoạt động nào, không hợp tác thì vụ án lại đi vào bế tắc.

- Việc giám định qua hồ sơ (bệnh án và giấy chứng nhận thương tích), thì có địa phương không phù hợp với thủ tục, trình tự giám định theo quy định của pháp luật nên không thể xem là giải pháp triệt để. Việc giám định tổn hại sức khoẻ được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ, trong đó không thể thiếu việc hỏi, khám xét trực tiếp người bị thương tích; ngoài ra, Pháp lệnh Giám định tư pháp (nay là Luật Giám định tư pháp) cũng quy định giám định viên có quyền từ chối giám định, nếu yêu cầu của CQTHTT vượt quá khả năng chuyên môn của họ. Vì vậy, nếu CQTHTT trưng cầu giám định thương tích “theo hồ sơ”, rất nhiều khả năng yêu cầu này sẽ bị tổ chức giám định từ chối. Hiện nay, Viện Pháp y quốc gia đã từ chối việc giám định theo hồ sơ bởi các lý do sau:

Một là, tùy vào vị trí tổn thương, mức độ tổn thương, cơ địa của người bị các tổn thương đó, có khi thương tích ổn định, tốt lên, nhưng cũng có khi lại xấu đi. Vì vậy, kết luận tổn hại sức khỏe thời điểm hiện tại mà căn cứ vào các triệu chứng cách xa thời điểm kết luận là không phù hợp, sẽ xảy ra trình trạng khiếu kiện của bị can, yêu cầu giám định lại của người tham gia tố tụng, cơ quan tố tụng, có khi của chính người bị hại.

Hai là, trường hợp giám định qua hồ sơ, giám định viên phải căn cứ phần lớn vào hồ sơ y tế. Nhưng cán bộ y tế không phải là Giám định viên và thường thì những ghi chép trong hồ sơ y tế rất chung chung, nhiều khi không chính xác vì có trường hợp ghi theo lời khai của người bệnh…. Cho nên, nếu giám định viên căn cứ vào hồ sơ y tế thì có thể dẫn đến hậu quả là cung cấp chứng cứ không đúng. Trách nhiệm kết luận giám định lúc này thuộc về giám định viên và cơ quan giám định chứ không phải do hồ sơ cũng không do cơ quan trưng cầu.

Ba là, yêu cầu giám định thường có các nội dung: xác định tỉ lệ tổn hại sức khỏe là vĩnh viễn hay tạm thời, cơ chế gây thương tích, vật gây thương tích. Vì vậy, không thể căn cứ vào hồ sơ cách đây hàng tháng, hàng năm, có vụ nhiều năm để kết luận được. Giám định viên chỉ kết luận những gì họ khám giám định và được sự hỗ trợ cận lâm sàng, tại thời điểm giám định.

Do đó, các giải pháp nêu trên chỉ là tạm thời nên vẫn cần một giải pháp hiệu quả, triệt để hơn để xử lý khó khăn này.

3. Đề xuất giải pháp khắc phục

Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 155 BLTTHS, CQTHTT bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định “Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động.” Cho nên, đối với các tội mà tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ là yếu tố định lượng làm căn cứ có khởi tố vụ án hay không thì việc giám định có tính chất quyết định. Tuy nhiên, với quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS thì khi có hành vi phạm các tội được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS xuất hiện 02 khả năng: (1) Hành vi phạm tội đáp ứng khoản 1 của các tội được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS và (2) Hành vi phạm tội đáp ứng các khung tăng nặng của các tội được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS. Bên cạnh đó, ngoài các tội liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS thì một số tội khác của Bộ luật Hình sự cũng dùng định lượng là tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.

Vấn đề người bị hại từ chối giám định thương tích được xem xét trên 02 khía cạnh sau:

Thứ nhất, đối với các tội được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS mà phải giám định tỷ lệ thương tật, mức độ tổn hại sức khoẻ để xem xét trách nhiệm hình sự

Trong trường hợp này, việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại chỉ phát sinh khi có căn cứ xác định hành vi của người bị hại phạm vào khoản 1 của một trong các tội được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS. Cho nên, khi thủ tục giám định chưa được thực hiện thì quyền yêu cầu của người bị hại cũng chưa phát sinh. Ngoài ra, nếu sau khi giám định mà hành vi phạm tội thuộc các khoản tăng nặng của một trong các tội được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS thì việc khởi tố vụ án không phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại. Nghĩa vụ của người bị hại trong trường hợp này giống như tất cả các công dân khác là phải thực hiện nghĩa vụ tham gia phòng chống tội phạm, nghĩa là họ phải thực hiện các yêu cầu của cơ quan điều tra theo luật định, trong đó phải tạo điều kiện để cơ quan chức năng thực hiện việc giám định thương tích làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Sau khi giám định mà hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của một trong các tội được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS thì việc khởi tố vụ án phụ thuộc vào yêu cầu người bị hại.

Thứ hai, đối với các tội không được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS

Trường hợp hành vi phạm tội không thuộc một trong các tội được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS thì việc khởi tố vụ án không phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại nên không đặt ra hành vi phạm tội phạm ở khoản nào của điều luật. Việc người bị hại tham gia giám định thương tích, tổn hại sức khỏe hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị hại. Có ý kiến cho rằng, nếu người bị hại giám định thương tích thì quyền lợi của họ bị xâm phạm do người phạm tội không đồng ý bồi thường ngay hoặc chỉ chấp nhận bồi thường ít hơn hoặc người phạm tội sẽ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe bản thân người bị hại cũng như người thân của họ. Theo quy định tại Điều 28 BLTTHS (giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự), Điều 7 BLTTHS (Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân) thì quyền lợi của người bị hại đã được đảm bảo cả về vấn đề bồi thường và tính mạng, sức khỏe.

Như vậy, khó khăn, vướng mắc đối với việc xử lý hành vi của người phạm tội xuất phát từ nghĩa vụ của người bị hại đối với việc họ từ chối tham gia giám định thương tích. Vấn đề này chưa được BLTTHS quy định chặt chẽ dẫn đến việc nghĩa vụ của người bị hại tham gia vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chưa đảm bảo. Cho nên, cần phải có giải pháp khắc phục việc người bị hại từ chối giám định như xảy ra trong thời gian qua.

Nghĩa vụ của người bị hại được quy định chung nhất tại khoản 4 Điều 51 BLTTHS. Theo đó, “Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự.”. Như vậy, người bị hại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi họ từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng. Việc từ chối khai báo rõ ràng khác với việc từ chối giám định. Chúng tôi cho rằng, từ chối khai báo không nghiêm trọng bằng từ chối giám định bởi vì nếu người bị hại từ chối khai báo thì cơ quan, người tiến hành tố tụng có thể sử dụng tài liệu, chứng cứ từ các nguồn chứng cứ khác như lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng…, nhưng việc người bị hại từ chối giám định thì rõ ràng căn cứ để khởi tố vụ án không được đảm bảo, chưa nói đến việc không xử lý được trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Cho nên, người bị hại từ chối khai báo thì có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 Bộ luật Hình sự thì việc người bị hại thực hiện hành vi nguy hiểm hơn là từ chối giám định lại không thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự là chưa phù hợp.

Vì vậy, theo chúng tôi cần bổ sung hành vi từ chối giám định của người bị hại vào Điều 308 Bộ luật Hình sự. Theo đó, Điều 308 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi như sau:

“Điều 308. Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, từ chối giám định của người bị hại hoặc từ chối cung cấp tài liệu

1. Người nào từ chối khai báo nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 22 của Bộ luật này hoặc trốn tránh việc khai báo, việc kết luận giám định, việc giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng,…”

Ngoài ra, Điều 51 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2002 đã khẳng định: “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”. Tuy nhiên, nghĩa vụ của người bị hại trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm lại chưa được quy định tương xứng. Vì vậy, cần bổ sung nghĩa vụ phải thực hiện thủ tục giám định theo yêu cầu của CQTHTT của người bị hại vào khoản 4 Điều 51 BLTTHS. Theo đó, đề nghị sửa đổi khoản 4 Điều 51 BLTTHS thành như sau:

“Điều 51. Người bị hại…

4. Người bị hại phải thực hiện thủ tục giám định theo yêu cầu của CQTHTT. Nếu từ chối sẽ bị dẫn giải.

Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của CQTHTT; nếu từ chối khai báo, từ chối giám định mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự.…”

Tóm lại, việc người bị hại từ chối giám định gây rất nhiều khó khăn cho công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong thời gian qua. Tuy nhiên, những quy định của BLTTHS về nghĩa vụ của người bị hại chưa đáp ứng yêu cầu trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong khi đó, việc quy định nghĩa vụ của người bị hại trong việc tuân thủ yêu cầu giám định hoàn toàn không ảnh hưởng quyền lợi của người bị hại nhưng lại góp phần đấu tranh tội phạm có hiệu quả. Do đó, cần thiết phải quy định về nghĩa vụ của người bị hại trong việc giám định thương tích nhằm khắc phục vướng mắc, bất cập trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm thời gian qua.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ hoặc tư vấn luật qua tổng đài: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

7. Bồi thường thiệt hại về hành vi cố ý gây thương tích?

Thưa luật sư! Cách đây 20 ngày em đã bị hai bố con nhà hàng xóm dùng gạch đập vào đầu gây trấn thương não. Sự việc sẩy ra như sau: chỉ vì xích mích nhỏ chuyện có mấy viên gạch nhà em mới xây nhà xong có một số gạch mới nhưng họ cố tình lấy và em bực mình nên có nói một câu "gạch nhà tao thì tao lấy đéo gì của ai". Ông hàng xóm thấy vậy ông ta đã lấy một viên gạch chỉ đập vào đầu em và sau khi đó con ông ta là giáo viên chưa biết sự việc ra sao bỏ mũ bảo hiểm xuống và đánh tới tấp vào ngực em, một lúc sau vì đầu em đau quá nên đã đi bệnh viện cấp cứu. Sự việc chưa dừng lại tại đây sau khi em đã đi cấp cứu họ tiếp tục lấy gạch đá và đáp sang nhà em làm cho vỡ một tủ kính bán hàng ăn to và rất nhiều thức ăn trong đó tính về kinh tế lên tới 6 triệu đồng. Sau khi gạch đáp sang mẹ em còn bị vào chân thâm tím khoảng 20cm. Bây giờ bên công an họ vẫn chưa đưa em đi giám định y khoa và cũng không có đả động gì tới việc này cả. vậy em mong luật sư tư vấn giúp em cần làm những thủ tục gì để được sớm khởi kiện và người đã hành hung gia đình em sẽ phải chịu những hình phạt gì?

-Trần Thuý Quỳnh

Trả lời:

Những thủ tục cần làm:

1. Làm đơn trình báo đến cơ quan công an điều tra về sự việc nhà hàng xóm có hành vi gây thương tích và hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của gia đình bạn.

2. Gửi văn bản yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật, trong đó gồm các nội dung sau đây:

a) Tên tổ chức hoặc họ, tên người yêu cầu giám định;

b) Nội dung yêu cầu giám định;

c) Tên và đặc điểm của đối tượng giám định;

d) Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);

đ) Ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định;

e) Chữ ký, họ, tên người yêu cầu giám định.

Người hành hung gia đình bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:

1. Đối với hành vi hành hung người khác, họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 104 BLHS

- Hình phạt như thế nào tùy thuộc vào tỷ lệ thương tật mà bạn đã giám định. Ngoài ra trong trường hợp này cũng cần căn cứ vào tình tiết người hàng xóm đã dùng gạch đập vào đầu bạn là hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích để định khung hình phạt, bởi theo quy định tại Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP thì dùng hung khí nguy hiểm là trường hợp dùng công cụ và phương tiện nguy hiểm và Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP thì "gạch, đá" là một phương tiện nguy hiểm.

2. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 BLHS)

Rõ ràng hàng xóm đã cố ý ném gạch đá gây thiệt hại tài sản của gia đình bạn, hành vi gây thiệt hại tài sản của gia đình hàng xóm là không cần thiết và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của gia đình bạn, với giá trị tài sản là 6 triệu đồng họ hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điêu 143 BLHS: "Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm"

8. Hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích?

Thưa luật sư! Cách đây không lâu tôi vào khu kí túc xá trường đại học chơi, đến lúc về tôi bị thầy quản lý học viên ở đó chặn lại hỏi và có dùng đèn pin đánh tôi vào mặt. SAu đó tôi đã có hành vi dùng tay chân đánh vào người đó khiến thầy phải nhập viện thương tích nhẹ. Tôi xin hỏi mình sẽ bị xử lý như thế nào?

-Vt St

Trả lời:

Vì bạn không nói rõ mức độ thương tật như thế nào nên trường hợp này có thể xảy ra hai hướng giải quyết như sau:

1/ Nếu thầy giáo đi giám định thương tật và tỷ lệ từ 11% trở lên thì hành vi của bạn sẽ bị xử lý theo quy định tại khoản 1 điều 104 BLHS với mức phạt tù từ sáu tháng đến ba năm tù.

Khoản 1 điều 104 thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu người bị hại, nên chỉ khi nào thầy giáo có đơn yêu cầu khởi tố thì cơ quan điều tra mới khởi tố tội phạm; vì thế bạn nên chủ động thỏa thuận bồi thường thiệt hại về dân sự để giảm khả năng bị khởi tố.

2/ Nếu đây chỉ là thương tích nhẹ, chưa đến 11% thì chỉ dừng lại ở mức độ bồi thường dân sự, nghĩa vụ của bạn là phải bồi thường cho thầy giáo, các khoản bồi thường hai bên có thể thỏa thuận phù hợp dựa trên một số chi phí sau:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe

- Thu nhập thực tế bị giảm sút của người bị giảm sút

- Tiền bù đắp tổn thất tinh thần...

9. Gây thương tích phạt bao nhiêu năm tù?

Em tôi 19 tuổi .1 lần đi chơi tối bị một thanh niên dùng dao chém đứt toàn bộ gân tay trái .tỉ lệ thương tật 34%. Sau khi chém thanh niên đó còn tiếp tục đuổi theo đòi chém tiếp, giữa 2 bên không có thù oán gì ,em tôi bị chém trong lúc thanh niên đó say rượu ko làm chủ được ý thức. Vậy theo pháp luật thanh niên đó sẽ bị xử lý thế nào. và gia đình tôi cần làm các thủ tục như thế nào?

-Đặng Văn Vinh

Trả lời:

Theo quy định của BLHS thì người phạm tội trong tình trạng say rượi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, việc say rượu không phải là lý do để miễn trách nhiệm hình sự.

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì người say rượt đã sử dụng hung khí nguy hiểm là "dao" để gây thương tích, với tỷ lệ thương tật là 34%. Theo quy định điều 104 BLHS tại khoản 3 thì người gây thương tích sẽ bị xử phạt từ năm năm đến mười lăm năm tù.

Gia đình bạn có thể làm đơn trình báo hoặc trình báo trực tiếp lên cơ quan công an đề nghị khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích.

10 . Cố ý gây thương tích thì phải làm đơn kiện như thế nào ?

Thưa luật sư! Gia đình em bị 1 nhóm người( khoảng 8 đến 10 người ) hành hung đánh gay thương tích. Nhưng người bị nặng nhất là em gái của em bị 1 trong số người đó tạt nước sôi bỏng từ trên mặt xuống tới bụng mà em gái của em đang có thai thì nhóm người hành hung bị phạt vô tội gì? Bên cạnh đó còn đập hết đồ buôn bán của gia đình em nữa. Giờ em muốn làm đơn kiện thì phải làm như thế nào. Xin cảm ơn.

-Hao Nguyen

Trả lời:

Nhóm người hành hung gia đình bạn đã có hành vi cố ý gây thương tích, với tình tiết phạm tội có tổ chức và với phụ nữ có thai thì chắc chắn những người này sẽ bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích, gia đình bạn cần thực hiện việc giám định tỷ lệ thương tật để biết chính xác khung hình phạt cụ thể, theo điều 104 BLHS:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần với cùng một người hoặc với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Bạn có thể trực tiếp trình báo hoặc viết đơn tố giác tội phạm đến cơ quan cảnh sát điều tra để yêu cầu điều tra, khởi tố tội phạm về hành vi cố ý gây thương tích và yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe của gia đình bạn và bồi thường thiệt hại về tài sản.

Về mẫu đơn tố giác tội phạm, bạn có thể tham khảo mẫu sau: Mẫu đơn tố giác tội phạm

11. Đánh bạn gây thương tích có phải bồi thường không ?

A đánh B gây thương tích 5%, trưởng công an phường X nơi xảy ra sự việc đã căn cứ vào quy định của pháp luật ra quyết định xử phạt tiền A, đồng thời buộc A phải bồi thường cho B là 300 000 đồng. Hỏi việc xử phạt trên là đúng hay sai?

-Nguyễn Hoàng Anh Khoa

Trả lời:

Căn cứ Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì chỉ quy định xử phạt hành chính khi người vi phạm có hành vi sau:

Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các công cụ phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác thì sẽ bị phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng (khoản 3 điều 5)

Cũng theo Nghị định này, trưởng công an xã chỉ có thẩm quyền xử phạt đến 2 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội... (khoản 3 điều 66).

Hành vi của A bị xử phạt hành chính nếu như trước đó A có cất giấu công cụ, phương tiện trong người để gây thương tích cho B; còn nếu A chỉ dùng tay để đánh B mà không có sự chuẩn bị trước thì cũng chưa bị xử phạt hành chính. Giả sử hành vi của A bị xử phạt hành chính theo quy định trên thì trưởng công an xã cũng không có thẩm quyền xử phạt. Vì thế việc xử phạt là sai.

1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

5 sao của 2 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày

Bài viết cùng chủ đề

Dịch vụ nổi bật