Hiện nay với tình hình nhu cầu vay tiền của người tiêu dùng ngày càng cao thì số lượng các công ty tài chính đã ngày càng gia tăng thì mới đáp ứng được tốt các nhu cầu đó. Vậy thì công ty tài chính là gì, có những hoạt động ra sao và có gì khác biệt so với công ty cho thuê tài chính hay ngân hàng? Tất cả những nội dung đó sẽ được làm rõ trong bài viết dưới đây của Luật Minh Khuê.

- Cơ sở pháp lý 

+ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017

+ Nghị định 39/2014/NĐ-CP

+ Nghị định 86/2019/NĐ-CP về vốn pháp định của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

1. Công ty tài chính là gì?

Năm 2020, pháp luật giải thích: Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 01 năm.

Tổ chức và hoạt động của công ty tài chính chịu một số hạn chế của pháp luật áp dụng chung cho các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho các hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế.

Giống như các ngân hàng, công ty tài chính cũng phải có vốn pháp định theo đúng quy định của pháp luật khi thành lập. Vốn pháp định của các tổ chức phi ngân hàng này thấp hơn vốn của ngân hàng thương mại. Pháp luật quy định công ty hoạt động tài chính phải có vốn pháp định là 500 tỷ đồng.

Về cơ cấu tổ chức, quy định pháp luật trước đây quy định rõ về hình thức thành lập của công ty tài chính. Tuy nhiên hiện nay quy định đó đã bị bãi bỏ. Thay vào đó công ty tài chính với tính chất là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng sẽ được thành lâp với hình thức theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 6 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 như sau:

"3.Tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

4.Tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn."

Theo đó, pháp luật hiện hành cho phép công ty tài chính thành lập với hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.

2. Phân loại công ty tài chính

Pháp luật không có giải thích chung mà chỉ phân chia thành 4 loại hình công ty tài chính khác nhau tại Điều 3 Nghị định 39/2014/NĐ-CP như sau:

Thứ nhất, công ty tài chính tổng hợp được thực hiện tất cả các hoạt động đốĩ vối công ty tài chính. Số còn lại là các công ty tài chính chuyên ngành, gồm công ty tài chính bao thanh toán, công ty tài chính tín dụng tiêu dùng và công ty cho thuê tài chính.

Công ty tài chính tổng hợp được chuyển đổi thành công ty tài chính chuyên ngành. Nhưng ngược lại, công ty tài chính chuyên ngành không được chuyển đổi thành công ty tài chính tổng hợp.

Thứ hai, công ty tài chính bao thanh toán, hoạt động chính trong lĩnh vực bao thanh toán; trong đó dư nợ bao thanh toán tối thiểu chiếm 70% tổng dư nợ cấp tín dụng hoặc một tỷ lệ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ. Công ty tài chính bao thanh toán không được thực hiện các hoạt động sau đây:

+ Bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, mua bán trái phiếu doanh nghiệp;

+ Tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, tổ chức, cá nhân để thực hiện các hoạt động đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh

+ Ủy thác vốn cho tổ chức tín dụng khác thực hiện cấp tín dụng.

Thứ ba, công ty tài chính tín dụng tiêu dùng, hoạt động chính trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng; trong đó dư nợ tín dụng tiêu dùng tối thiểu chiếm 70% tổng dư nợ cấp tín dụng hoặc một tỷ lệ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.

Thứ tư, công ty cho thuê tài chính, hoạt động chính là cho thuê tài chính, trong đó dư nợ cho thuê tài chính phải chiếm tối thiểu 70% tổng dư nợ cấp tín dụng.

Công ty cho thuê tài chính không được góp vốn, mua cổ phần, thành lập công ty con, công ty liên kết dưối mọi hình thức.

3. Hoạt động của công ty tài chính

- Công ty tài chính được thực hiện một số hoạt động ngân hàng sau đây theo giấy phép

Thứ nhất, nhận tiền gửi của tổ chức, tức là không được nhận tiền gửi của cá nhân như ngân hàng;

Thứ hai, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn của tổ chức;

Thứ ba, vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước, nước ngoài và Ngân hàng Nhà nước;

Thứ tư, cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng;

Thứ năm, bảo lãnh ngân hàng, tức là bảo lãnh theo quy định về bảo lãnh ngân hàng.

Thú sáu, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá khác;

Thứ bảy, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác.

Như vậy trong các hoạt động ngân hàng nêu trên, thì công ty tài chính không được giao dịch với cá nhân, mà chỉ được giao dịch với pháp nhân đối với 3 hoạt động đầu. Còn 4 hoạt động sau, thì được giao dịch với cả pháp nhân và cá nhân.

- Công ty tài chính được thực hiện các hoạt động khác, bao gồm:

Thứ nhất, thực hiện hoạt động phát hành thẻ tín dụng được mở tài khoản tại ngân hàng nưóc ngoài;

Thứ hai, được mở tài khoản tiền gửi, tài khoản quản lý tiền vay cho khách hàng;

Thứ ba, chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư và chỉ được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, quản lý nợ và khai thác tài sản. Mức góp vốn, mua cổ phần của một công ty tài chính và các công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính vào một doanh nghiệp không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp. Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của một công ty tài chính vào các doanh nghiệp, kể cả các công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính đó không được vượt quá 60% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của công ty tài chính;

Thứ tư, được tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, tổ chức, cá nhân để thực hiện các hoạt động đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh, cấp tín dụng; ủy thác vốn cho tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng;

Thứ năm, được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ;

Thứ sáu, được mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp;

Thứ bảy, bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp; đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tò có giá khác;

Thứ tám, kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối;

Thứ chín, làm đại lý kinh doanh bảo hiểm;

Thứ mười, cung ứng dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, đầu tư;

Thứ mười một, cung ứng dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản của khách hàng.

4. Sự khác biệt giữa công ty tài chính và ngân hàng

Có thể dễ dàng bắt gặp các công ty tài chính như FE Credit, Home Credit khi khách hàng vào các siêu thị điện máy và có nhu cầu mua trả góp thông qua các công ty tài chính này. Không ít người cho rằng đây chính là ngân hàng nhưng thực tế lại không phải vậy. Về mặt pháp lý và trên thực tế giữa công ty tài chính và ngân hàng có rất nhiều sự khác biệt. Vậy sự khác nhau giữa ngân hàng và các công ty tài chính là gì?

Thứ nhất, về sản phẩm vay: Tất cả các ngân hàng thương mại hiện nay đều tiến hành cho vay tín chấp và cả vay thế chấp. Tuy nhiên, các công ty tài chính thì chỉ cho vay tín chấp.

Thứ hai, về hình thức vay tín chấp: Các ngân hàng thường chỉ cho vay tín chấp theo lương chuyển khoản. Còn công ty tài chính lại áp dụng hình thức vay đa dạng hơn, hỗ trợ được nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.

Thứ ba, về lãi suất cho vay: Vay tại các tổ chức tài chính thường phải chịu lãi suất cao hơn so với vay tại ngân hàng.

Thứ tư, về phân khúc khách hàng: Để có thể đáp ứng được các điều kiện vay của ngân hàng, đối tượng khách hàng thường là những người có hợp đồng lao đồng, có bảng lương sao kê. Còn phân khúc khách hàng của các tổ chức tài chính lại đa dạng hơn, từ công nhân cho đến tự kinh doanh.

Thứ năm, về hạn mức cho vay: Các ngân hàng có thể cho vay một số tiền lớn, có thể lên đến 500 triệu đồng nếu chứng minh được khả năng thu nhập. Tuy nhiên, các tổ chức tài chính lại chỉ cho vay một khoản thấp, tối đa chỉ 70 triệu đồng.

Thứ sáu, về điều kiện cho vay: Khi vay tiền tại các ngân hàng, cần phải đảm bảo các điều kiện và thủ tục cần thiết. Chẳng hạn như phải có thời gian làm việc trên 1 năm và có thu nhập ổn định. Trong khi đó, điều kiện đăng ký vay tại các công ty tài chính dễ hơn nhiều.

5. Một số công ty tài chính tại Việt Nam

Thứ nhất là Home Credit

Đây là công ty tài chính lớn ở Việt Nam, thành lập từ 2009 và tới hiện nay đã có văn phòng trải dài khắp cả nước.

Home Credit đang không ngừng nỗ lực và cải tyến dịch vụ cũng như chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm mang đến cho khách hàng những khoản vay với lãi suất hấp dẫn.

Thứ hai là Prudential Việt Nam

Nằm trong danh sách các công ty tài chính lớn ở Việt Nam, Prudentyal mang đến nhiều giải pháp tài chính đa dạng, phù hợp với từng phân khúc khách hàng.

Thứ ba là HD Sài Gòn

Công ty tài chính TNHH HD Sài Gòn là công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, HD Sài Gòn luôn hoạt động hướng tới mục tiêu là mang đến giải pháp tài chính tiêu dùng cá nhân.

Ngoài ra còn có công ty tài chính Mirae Asset Việt Nam, công ty tài chính Việt Sun…

Trên đây là những thông tyn về công ty tài chính cùng những đặc điểm và hoạt động của công ty tài chính. Hy vọng qua nội dung này bạn có thể hiểu được công ty tài chính là gì và nắm rõ được cách thức hoạt động của công ty tài chính.

Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)