Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
1. Như thế nào là đồng phạm?.
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Căn cứ Khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 định nghĩa về đồng phạm, cụ thể như sau:
"Điều 17. Đồng phạm
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm".
Như vậy ta có thể hiểu đồng phải phải là trường hợp có hai người trở lên cố ý (đã có sự thỏa thuận, bàn bạc từ trước để thực hiện hành vi phạm tội,....) cùng thực hiện một tội phạm. Mặt khác Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về khái niệm tội phạm, cụ thể như sau: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự". Vậy ta có thể hiểu tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:
"Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”
Như vậy hành vi trộm cắp tài sản của các bạn trên có thể cấu thành tội danh quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 với khung hình phạt cao nhất là phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Vậy căn cứ theo quy định tại Điều 9 của luật này thì tội phạm trên được phân vào loại tội phạm ít nghiêm trọng.
Căn cứ theo Điều 12 về phân loại tội phạm nêu trên thì:
- Bạn 13 tuổi (cháu của bạn) và bạn 15 tuổi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên chưa thể cấu thành tội phạm được. Vì không cấu thành về tội phạm nên không thỏa mãn điều kiện cùng thực hiện một tội phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017. Vậy cháu của bạn và bạn 15 tuổi không phải là đồng phạm với tội phạm trên.
- Đối với bạn 16 và 17 tuổi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên đã thỏa mãn các yếu tố về đồng phạm, nên hai bạn này là đồng phạm về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017.
2. Như thế nào là phạm tội có tổ chức?
Pháp luật Hình sự hiện hành quy định: "Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm" (Khoản 2 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017).
Phạm tội có tổ chức là sự cấu kết chặt chẽ của hình thức đồng phạm, nó vừa thể hiện được đặc điểm dấu hiệu chủ quan của tội phạm lại vừa thể hiện được đặc điểm dấu hiệu khách quan của tội phạm; vừa thể hiện được mức độ liên kết về mặt chủ quan lại vừa thể hiện được mức độ phân hóa được vai trò, nhiệm vụ cụ thể về mặt khách quan của những người đồng phạm. Trong phạm tội có tổ chức những người đồng phạm vừa có sự liên kết chặt chẽ với nhau vừa có sự phân hóa vai trò, phân công nhiệm vụ cụ thể và rõ rệt, với những tính chất đã được nêu ở trên ta thường nhận thấy phạm tội có tổ chức thường có các đặc điểm như sau:
- Trong quá trình hoạt động nhóm, phạm tội có tổ chức luôn luôn có sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ về mọi mặt để phục vụ cho việc thực hiện tội phạm cũng như cho hoạt động che dấu tội phạm với những phương pháp, thủ đoạn thường có sự tinh vi, xảo quyệt,...
- Phạm tội có tổ chức thường tồn tại một quan hệ mang tính chất chỉ huy - phục tùng và có định hướng hoạt động lâu dài, bền vừng. Mỗi người đồng phạm trong tổ chức đều chịu sự điều khiển chung thống nhất.
Phạm tội có tổ chức được coi là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết này không những được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 mà nó còn được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của nhiều loại tội phạm cụ thể ví dụ như tội "Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi" (Quy định tại Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017).
3. Khái niệm người thực hành trong đồng phạm?.
Pháp luật hình sự hiện hành quy định: "Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm" (Khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017).
Dựa theo khái niệm được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 ta có thể nhận thấy người thực hành trong đồng phạm có thể được thể hiện trong hai trường hợp sau:
- Người thực hành là người tự mình thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành các tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự. Đây là một trường hợp trực tiếp phạm tội thông thường và phổ biến nhất. Ví dụ: Anh A giữ chị B để cho anh C thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Như vậy trong trường hợp này anh A và anh B đều được coi là người thực hành - người trực tiếp thực hiện hành vi hiếp dâm.
- Người thực hành là người không trực tiếp thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự mà chỉ có hành động cố ý tác động người khác để những người này thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Những những đối tượng thực hiện hành vi này lại không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người tác động. Việc những người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự có thể do các lý do: Họ là người không có năng lực trách nhiệm hình sự (có thể là do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự); Hoặc là những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự do bị cưỡng bức về mặt tinh thần,....Ví dụ: Anh A xúi dục anh B (11 tuổi) lẻn vào nhà chị C để lấy trộm tiền của chị C.
4. Khái niệm về người tổ chức trong đồng phạm?
Khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:
Người chủ mưu là người đề xướng ra các chủ trương, phương hướng hoạt động của nhóm đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội. Người chủ mưu có thể là người trực tiếp đứng ra điều khiển, chỉ đạo tất cả các hoạt động phạm tội hoặc cũng có thể chỉ là người đưa ra các phương hướng hoạt động.
Người cầm đầu là người thành lập, kêu gọi mọi người vào nhóm đồng phạm hoặc người nàu cũng có thể tham gia vào việc soạn thảo các kế hoạch, thực hiện việc phân công, giao nhiệm vụ, trách nhiệm cho những người trong đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra người cầm đầu cũng thực hiện việc đôn đốc, điều khiển các hoạt động của nhóm đồng phạm.
Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp của nhóm đồng phạm.
Với những vai trò được pháp luật hình sự quy định nêu trên người tổ chức luôn luôn được coi là người có hành vi nguy hiểm nhất trong một vụ án hình sự có đồng phạm.
5. Khái niệm người xúi giục trong đồng phạm?.
Người xúi giục là người có những hành vi tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác khiến cho người này thực hiện hành vi phạm tội. Người xúi giục có thể vừa thực hiện các hành vi kích động, dụ dỗ, hành vi thúc đẩy người khác với mục đích hướng tới là khiến cho người đó thực hiện các hành vi phạm tội, xâm phạm đến các quyền lợi mà pháp luật hình sự bảo vệ. Người xúi giục có thể là người nghĩ ra việc phạm tội và thúc đẩy việc thực hiện tội phạm đó thông qua một người khác.
Ngoài ra Khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về khái niệm người xúi giục, cụ thể như sau:
Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm phải nhằm vào một đối tượng nhất định và hướng tới việc thực hiện một tội phạm cụ thể. Về mặt chủ quan cần phải xác định hành vi của người xúi giục có ý định rõ ràng là thúc đẩy người khác phạm tội hay không?. Những người có lời nói hoặc việc làm có thể gây ảnh hưởng đến việc phạm tội của người khác, nhưng không có ý định thúc đẩy người này phạm tội thì cũng không xác định là người xúi giục.
6. Khái niệm người giúp sức trong đồng phạm?.
Người giúp sức là người tạo điều kiện cho người thực hành để họ thực hiện hành vi phạm tội. Điều kiện để giúp người thực hành thực hiện tội phạm có thể là các điều kiện về kinh tế, vật chất hoặc các điều kiện về tinh thần. Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017 định nghĩa về người giúp sức tại Khoản 3 Điều 17, cụ thể như sau:
Hành vi giúp sức về mặt vật chất có thể được hiểu là người này cung cấp các công cụ, phương tiện hoặc khắc phục những trở ngại để người thực hành có thể dễ dàng thực hiện việc phạm tội hơn.
Giúp sức về mặt tinh thần là tạo cho người thực hành điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện tội phạm, như là chỉ dẫn, góp ý cho việc chuẩn bị, việc thực hiện hành vi phạm tội, cũng như cung cấp các thông tin liên quan đến tình hình nơi tội phạm được thực hiện hoặc là tình hình, lịch trình của nạn nhân để người thực hiện hành vi phạm tội có thể nắm bắt rõ các thông tin để thuận tiện hơn cho việc thực hiện tội phạm.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê