Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định của thông tư 16/2020/TT-BQP quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc Phòng. 

 

1. Kỷ luật là gì?

Kỷ luật là quy tắc xử sự chung do cơ quan, tổ chức đặt ra và những cá nhân thuộc cơ quan, tổ chức đó phải tuân thủ, thực hiện theo nhằm tạo ra sự thống nhất để công việc, kết quả học tập…đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Kỷ luật cũng có thể do cá nhân tự đặt ra cho bản thân. Kỷ luật góp phần đào tạo con người tập trung hướng đến mục tiêu, những gì đã đặt ra. Và cơ hội đến với thành công thường rộng mở hơn với những người có tính kỷ luật.

Kỷ luật luôn song hành với mỗi người dù họ sinh sống ở đâu, trong gia đình, ngoài xã hội, trong nhà trường, nơi làm việc…

Kỷ luật có thể có tính pháp lý hoặc không có tính pháp lý

- Đối với các tổ chức tư nhân: Kỷ luật là quy định cho các thành viên trong tổ chức, công ty/doanh nghiệp; các thành viên trong đó phải thực hiện. Nếu làm trái các quy định đó sẽ bị xử lý kỷ luật bằng cái hình thức tại nội quy đã quy định. Tính kỷ luật ở đây không mang tính pháp lý.

- Đối với cơ quan Nhà nước: Kỷ luật là khuôn mẫu mà các cán bộ, công viên chức phải tuân theo, nếu làm trái các quy tắc sẽ bị xử lý kỷ luật. Lúc này, xử lý kỷ luật mang tính pháp lý.

 

2. Tính kỷ luật là gì?

Tính kỷ luật là thể hiện của một cá nhân sau quá trình rèn luyện phấn đấu, tuân thủ nguyên tắc, khuôn khổ hoạt động của cơ quan, tổ chức.

Tính kỷ luật của cá nhân được thể hiện qua khả năng làm chủ hành vi, nhận thức của bản thân trong khuôn khổ, không chịu sự chi phối từ bên ngoài.

 

3. Kỷ luật trong quân đội là gì?

Kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.

 

4. Đối tượng kỷ luật quân đội

Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư 16/2020/TT-BQP quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc phòng.

Thông tư này áp dụng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ (quân nhân), công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng, viên chức quốc phòng (công chức, công nhân và viên chức quốc phòng) và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Các đối tượng sau đây vi phạm pháp luật của nhà nước, điều lệnh, điều lệ của Quân đội thì cũng áp dụng Thông tư này để xem xét, xử lý kỷ luật:

a- Người lao động hợp đồng đang phục vụ trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng;

b- Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu;

c- Dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc làm nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

d- Công dân được trưng tập vào phục vụ trong Quân đội.

Nguyên tắc xử lý kỷ luật như sau: Mọi vi phạm kỷ luật phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh; hậu quả do vi phạm kỷ luật gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật đồng thời, việc xử lý vi phạm kỷ luật được tiến hành nhanh chóng, chính xác, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật.

 

5. Hình thức kỷ luật quân đội

Hình thức kỷ luật đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thực hiện theo quy định của Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam và Khoản 1, Điều 50 Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng được xếp từ thấp đến cao như sau:

a- Khiển trách;

b- Cảnh cáo;

c- Hạ bậc lương;

d- Giáng cấp bậc quân hàm;

đ- Giáng chức;

e- Cách chức;

g- Tước quân hàm sĩ quan;

h- Tước danh hiệu quân nhân.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về hình thức kỷ luật đối với hạ sĩ quan, binh sĩ thực hiện theo quy định Khoản 1, Điều 60 Luật Nghĩa vụ quân sự và hình thức kỷ luật đối với công chức, công nhân và viên chức quốc phòng thực hiện theo quy định Khoản 2, Điều 50 Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng…

 

6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật quân đội

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi kỷ luật là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xây dưng quân đội cách mạng. Người khẳng định: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Do đó, việc nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng thời, luôn có tác dụng định hướng và chỉ đạo việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực mọi mặt của quân đội trong giai đoạn hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật của Quân đội cách mạng được thể hiện cơ bản trên một số nội dung sau:

Một là, kỷ luật là sức mạnh của quân đội, buông lỏng kỷ luật là làm suy yếu quân đội.

Kỷ luật là hệ thống những nguyên tắc, quy định, được cụ thể hóa thành điều lệnh, điều lệ của quân đội, hoạt động theo khuôn khổ của Nhà nước và đảm bảo cho các hoạt động của quân đội được thực hiện một cách thống nhất và có hiệu quả. Kỷ luật là một thuộc tính không thể thiếu của quân đội, nhưng kỷ luật của các quân đội thì lại không hoàn toàn giống nhau. Quân đội ta là quân đội của dân, do dân và vì dân nên hoàn toàn khác về bản chất với quân đội của các nước tư bản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”1. Kỷ luật trong quân đội được thể hiện ở ý thức, hành động của toàn thể quân nhân trong thực hiện mọi nhiệm vụ, mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Vì vậy, vấn đề kỷ luật trong quân đội là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu vì đó là sức mạnh, là nền tảng làm nên mọi chiến thắng trong thực hiện nhiệm vụ sứ mệnh lịch sử của quân đội. Kỷ luật khi đã được giáo dục, đã được thấm sâu vào nhận thức, tình cảm của mọi quân nhân sẽ hướng dẫn hành động của họ và trở thành sức mạnh vật chất làm cho sức mạnh chiến đấu của quân đội được tăng lên gấp bội. Kỷ luật quân đội là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một người quân nhân cách mạng. Nếu buông lỏng kỉ luật, quân nhân sẽ chấp hành mệnh lệnh chiến đấu không nghiêm, làm giảm sức chiến đấu của Quân đội. Một tập hợp không có kỉ luật theo Người chỉ là một đội quân ô hợp, thiếu tổ chức chặt chẽ, thiếu kỷ luật thì không thể có sức mạnh, cho dù nó có được trang bị những vũ khí tối tân nhất. Kỷ luật sa sút và lỏng lẻo đồng nghĩa với sự suy yếu của quân đội.

Hai là, kỷ luật của quân đội ta là kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đòi hỏi phải được duy trì thực sự nghiêm túc.

Sinh thời, Người thường xuyên nhấn mạnh: Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân. Vì vậy, kỷ luật phải tự giác, nghiêm minh... Điều đó khác hoàn toàn về bản chất so với kỷ luật quân phiệt của quân đội tư sản, đế quốc. Quân đội ta dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn mang trong mình bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân và dân tộc sâu sắc. Bản chất kỷ luật của quân đội ta mang bản chất kỷ luật của Đảng, là kỷ luật “tự giác, nghiêm minh”. Đoàn kết tốt, chấp hành kỷ luật tự giác, nghiêm minh đã trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp, một phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, là một yếu tố quan trọng nhất để xây dựng chính quy và tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội ta. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề kỷ luật đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, trong quá trình huấn luyện, giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm đến giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ, chiến sỹ, chú trọng tăng cường kỷ luật trong quân đội. Người chỉ rõ: “Kỷ luật phải nghiêm minh. Trong kỷ luật phải chú ý hai điểm: Thưởng -  Phạt”2.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, quân đội không thể có kỷ luật tự giác, nghiêm minh nếu như không có sự giáo dục, rèn luyện. Và trong quá trình duy trì kỷ luật không thực hiện tốt vấn đề khen thưởng và xử phạt thì sẽ dễ dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực không tốt tới cán bộ, chiến sỹ. Thưởng, phạt là yêu cầu cơ bản trong thực hiện kỷ luật để đảm bảo tính nghiêm minh và hiệu quả thực tế của kỷ luật. Sự công minh và nghiêm túc trong khen thưởng và kỷ luật bao giờ cũng là động lực tích cực cho mọi quân nhân phấn đấu và rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, ác liệt để hoàn thành nhiệm vụ. Thưởng, phạt không công minh, không thỏa đáng thì có tác động ngược lại, làm suy giảm, nguội lạnh tinh thần phấn đấu của bộ đội và không đúng với bản chất của kỷ luật trong quân đội cách mạng, quân đội của giai cấp công nhân.

Nếu kỷ luật mà không duy trì tốt, vấn đề khen thưởng, sử phạt không công minh thì kỉ luật ấy chỉ mang tính hình thức, qua loa, đại khái sẽ làm suy yếu ý trí, sức chiến đấu của bộ đội. Vì vậy, “Thưởng - Phạt” cần phải được các cấp trong quân đội và toàn thể cán bộ, chiến sỹ quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc. Cán bộ, chỉ huy là tấm gương cho mọi chiến sỹ học tập, noi theo. Cán bộ, chỉ huy càng ở vị trí công tác cao thì trách nhiệm càng nặng nề, càng phải chấp hành nghiêm kỷ luật của quân đội, phải thực sự là tấm gương mẫu mực về chấp hành kỷ luật; đồng thời càng phải thực hiện “Thưởng - Phạt” phân minh. Không được coi nhẹ, buông lỏng bản thân mình, luôn gắn mình với kỉ luật quân đội, với nhiệm vụ, chức trách Đảng và Nhà nước giao phó.

Ba là, xây dựng quân đội phải thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục kỷ luật đồng thời tăng cường kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, xây dựng ý thức kỷ luật tự giác cho mỗi cán bộ, chiến sỹ.

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng, Hồ Chủ tịch cho rằng chỉ có thể trên cơ sở chính trị tinh thần cao và kỷ luật tự giác, nghiêm minh, cán bộ, chiến sỹ quân đội ta mới có thể chịu đựng được những khó khăn, ác liệt của chiến tranh, mới có thể nâng cao hiệu quả sử dụng trang bị vũ khí trong quá trình chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Vì vậy, tăng cường kỷ luật là yêu cầu cơ bản của việc tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội.  

Người thường xuyên căn dặn bộ đội ta phải giữ nghiêm kỷ luật, đặc biệt là trong lúc cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, nhiệm vụ mới. Sự phát triển của nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới không những đòi hỏi phải tăng cường kỷ luật, mà còn cần phải có những nội dung và yêu cầu mới về kỷ luật đối với bộ đội, đó là một tất yếu khách quan. Sự chậm trễ, không kịp thời tăng cường kỷ luật trong hoàn cảnh mới có thể gây nên những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội cách mạng.

Trong rèn luyện kỷ luật cho quân đội, Người rất lưu ý đến vấn đề chấp hành mệnh lệnh. Tuyệt đối chấp hành mệnh lệnhlà yêu cầu có tính chất đặc thù đối với tổ chức quân sự, tính chất kỷ luật “sắt”, tính nghiêm minh của quân đội biểu hiện tập trung thông qua đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ quân đội ta: “Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành”3. Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên đã trở thành lời thề danh dự và luôn được thể hiện cụ thể trong mọi hành động của cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam trong quá trình xây dựng và trưởng thành, trong thời chiến cũng như trong thời bình.

Bốn là, tăng cường kỷ luật nhằm xây dựng con người mới trong quân đội, hình thành những phẩm chất của người quân nhân cách mạng.

Hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” in đậm trong lòng nhân dân được tạo dựng không chỉ từ những chiến công vẻ vang của quân đội ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc mà còn bởi một phần rất quan trọng từ sự chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta trong quá trình xây dựng và trưởng thành. Sự dũng cảm trong chiến đấu chống xâm lược, tuy nhiên nếu có những biểu hiện công thần, không chịu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm kỷ luật quân đội, kỷ luật trong quan hệ với nhân dân trong thời bình thì quân đội cũng không thể có được sự ngưỡng mộ, yêu mến và lòng tin tưởng của nhân dân. Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề kỷ luật còn hướng đến xây dựng con người trong quân đội, xây dựng những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng. Đây là sự thể hiện sâu sắc giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm tăng cường kỷ luật quân đội, giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho bộ đội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quân đội ta là quân đội cách mạng từ Nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu và có sự liên hệ chặt chẽ với Nhân dân. Theo Người, quân đội cách mạng phải khác căn bản với quân đội nhà nghề của giai cấp thống trị, xâm lược. Vì vậy, phải thường xuyên tăng cường bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc vào từng ý chí, hành động của quân đội ta. Sự thống nhất của các yếu tố đó là một giá trị nhân văn đáng tự hào của Quân đội.

Đến nay, tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang tính xuyên suốt trong quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Người dạy rằng, "dân như nước, mình như cá, lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết"4. Vì lẽ đó, sức mạnh của Đảng, của nhà nước của quân đội là từ nhân dân mà ra, quân đội phải thương yêu quý trọng nhân dân như cha, mẹ, anh em của mình, phải đoàn kết chặt chẽ với dân, giúp nhân dân trong mọi hoàn cảnh.

Mặt khác, công tác giáo dục cán bộ, chiến sỹ trong quân đội phải chú trọng giáo dục tình thương yêu, chia sẻ lẫn nhau như những người ruột thịt: "Chiến sĩ chưa ăn cán bộ không được kêu mình đói, chiến sĩ chưa ngủ cán bộ không được kêu mình rét; chính trị viên phải như chị hiền; chiến sỹ, cấp dưới phải tôn trọng cấp trên, tôn trọng, bảo vệ cán bộ và chấp hành nghiêm mọi mệnh lệnh”5. Tinh thần đoàn kết quốc tế, lòng nhân đạo với sĩ quan binh lính địch lúc bị chết, bị thương, bị bắt làm tù binh, có thái độ đúng đắn với những kẻ xâm lược và nhân dân lao động nhằm tăng bạn, bớt thù trong chiến tranh cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng trong quá trình giáo dục rèn luyện cán bộ, chiến sỹ.  

Năm là, tăng cường kỷ luật phải gắn liền với phát huy dân chủ, phê phán những biểu hiện vi phạm kỷ luật, những thói hư tật xấu, xây dựng nếp sống văn hóa trong trong môi trường quân đội.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tăng cường kỷ luật là việc mở rộng dân chủ, phát huy tinh thần dân chủ của cán bộ, chiến sĩ. Mở rộng dân chủ, phát huy dân chủ không đồng nghĩa với tình trạng vô kỷ luật, vô tổ chức mà là để nhằm củng cố kỷ luật được tốt hơn, càng tăng cường kỷ luật hơn. Người phân tích: “Không nên hiểu lầm dân chủ. Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã có quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện. Phải cấm chỉ những hành động tự do quá trớn ấy”6. Mối quan hệ giữa kỷ luật và dân chủ, giữa tăng cường kỷ luật và phát huy dân chủ được Hồ Chí Minh đặt ra, phân tích sâu sắc làm cơ sở cho quá trình tăng cường rèn luyện kỷ luật và phát huy dân chủ trong quân đội ta trong tất cả các giai đoạn lịch sử. Trong khi tăng cường giáo dục ý thức tổ chức rèn luyện kỷ luật cho quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán những thói hư tật xấu, những biểu hiện vi phạm kỷ luật dễ xảy ra ở những cán bộ, chiến sĩ có thành tích trong chiến đấu.

Ghi chú:

1. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tập 7, tr.483.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.483

3. Lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, họp từ ngày 23 đến 28-10-1950

4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.4, tr.116.

5. Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18, năm 1951

6. Huấn thị của Bác tại Hội nghị tổng kết Chiến dịch Lê Hồng Phong