1. Lịch sử hình thành và phát triển của Luật quốc tế

1.1 Luật quốc tế thời cổ đại

Luật quốc tế thời cổ đại được hình thành đầu tiên ở khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập vào khoảng cuối thế kỷ 40 đầu thế kỷ 30 TCN. Sau đó thì luật quốc tế được hình thành ở Phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc và phương Tây như Hy Lạp và La Mã,... Do kinh tế thấp kém, quan hệ giữa các quốc gia yếu ớt, lại bị cản trở bởi điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế, xã hội hạn chế nên luật quốc tế chỉ mang tính khu vực vực khép kín với nội dung chủ yếu là các luật lệ tập quán về chiến tranh và ngoại giao, giải quyết các vấn đề về tù binh, bồi thường chiến tranh, quan hệ chư hầu,...

Cùng với những nguyên tắc và những quy phạm pháp luật về chiến tranh, hòa bình, các quy phạm pháp luật về lĩnh vực khác nhau như ngoại giao, điều ước quốc tế,...cũng bắt đầu được hình thành mặc dù còn rất thô sơ và đậm tính tập quán. Một trong những điều ước quốc tế sớm nhất được ghi nhận lại là hòa ước ký kết bằng tiếng Sumerian giữa Eannatum đại diện cho thành bang Lagash với đại diện của thành bang Umma khoảng năm 3100 TCN và một hòa ước nổi tiếng khác là hòa ước giữa vua Ai Cập Ramdec II và vua Hattusin III ký năm 1287 TCN.

1.2 Luật quốc tế thời trung đại

Thời kỳ này đã có những bước phát triển nhất định, do nhu cầu phát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật nên tính khu vực dần bị phá vỡ và thay vào đó là các quan hệ liên khu vực giữa các quốc gia. Bên cạnh vấn đề chiến tranh, ngoại giao sự hợp tác của các quốc gia còn mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, chính trị,... Đã bắt đầu có sự xuất hiện của các quy phạm, chế định về luật biển, về quyền ưu đại miễn trừ ngoại giao, xuất hiện các cơ quan đại diện ngoại giao thường trực của quốc gia này tại quốc gia khác.

Một số trung tâm được hình thành tại châu Âu, Nga, tây nam Địa Trung Hải, Ấn Độ, Trung Hoa. Khoa học quốc tế được hinhg thành với nhiều tác phẩm như “ Tự do biển cả” của Huygô G. Rotius. Đây là tiền đề quan trọng cho quá trình phát triển luật quốc tế sau này.

1.3 Luật quốc tế thời cận đại

- Thời kỳ này, với mối quan hệ quốc tế phát triển vượt bậc ra ngoài khuân khổ của khu vực và liên khu vực, luật quốc tế được ghi nhận có sự phát triển khá rực rỡ. Luật quốc tế hiện đại phát triển trên cả hai phương diện luật thực định và khoa học pháp lý quốc tế.

- Các nguyên tắc mới của luật quốc tế như: nguyên tắc bìnhđẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,...đã được hình thành.

- Đóng góp quan trọng nhất trong thời kỳ này là sự ra đời của các tổ chức quốc tế như: Liên minh điện tín quốc tế (1865), liên minh bưu chính thế giới ( 1879),...các tổ chức này đã đánh dấu sự liên kết và ràng buộc có tính cộng đồng quốc tế của các quốc gia.

- Bên cạnh những thành tựu đó, luật quốc tế cận đại vẫn tồn tại những học thuyết, những quy chế pháp lý mang tính phản động, bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế như chế độ thuộc địa, tô giới,...

1.4 Luật quốc tế hiện đại

- Vào năm 1917 Cách mạng tháng 10 Nga đã có những đóng góp hết sức lớn lao vào sự phát triển của LQT hiện đại. Sự tiến bộ này thể hiện ở chỗ LQT được áp dụng thống nhất trên toàn thế giới. 

- Luật quốc tế hiện đại có nhiều tiến bộ, nhiều nguyên tắc và quy phạm mới được hình thành như tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, tôn trọng quyền con người. Để nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật các mối quan hệ Quốc tế, cộng đồng Quốc tế đã có nhiều nỗ lực trong việc pháp điển hóa các nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế trong lĩnh vực: ngoại giao, lãnh sự, luật biển, luật điều ước quốc tế.

2. Đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế

Luật quốc tế điều chỉnh các đối tượng như sau:

- Luật quốc tế có nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn quốc tế gồm: quan hệ chính trị, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hóa, xã hội giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế. Không giống với các quan hệ do luật quốc gia điều chỉnh, quan hệ thuộc phạm vi của luật quốc tế điều chỉnh là những quan hệ mang tính liên quốc gia,liên chính phủ phát sinh trong mọi mặt của đời sống quốc tế. => Như vậy đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế là các quan hệ liên quốc gia và các thực thể quốc tế khác phát sinh trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,...

- Tính chất liên quốc gia, liên chính phủ là đặc trưng quan trọng của quan hệ pháp luật quốc tế, là căn cứ xác định tính pháp lý quốc tế của mối quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế. Đồng thời đây là cơ sở để phân biệt quan hệ pháp luật quốc tế của quốc gia với các quan hệ pháp luật khác mà quốc gia là một bên chủ thể.

3. Các đặc điểm cơ bản của Luật quốc tế hiện đại

Luật quốc tế hiện đại có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Luật quốc tế được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận thể hiện ý chí của các chủ thể. Thông qua quá trình thỏa thuận, các quốc gia đã soạn thỏa các điều ước quốc tế, thiết lập những quy tắc của luật quốc tế trong những lĩnh vực nhất định. Những quy tắc này chỉ có hiệu lực nếu có sự chấp thuận của các quốc gia. Bằng việc ký kết, phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế, các quốc gia cam kết thực hiện các quy phạm pháp luật quốc tế và chịu sự ràng buộc của các quy phạm đó.

- Luật quốc tế không có hệ thống cơ quan tư pháp như trong pháp luật quốc gia. Theo quy định của luật quốc tế, Tòa án chỉ có thẩm quyền xét xử nếu được sự chấp nhận thẩm quyền của các quốc gia thành viên.

- Luật quốc tế có hệ thống chế tài đa dạng, phong phú. Trước đây xuất phát từ sự so sánh những điểm khác biệt giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, nhiều người cho rằng luật quốc tế không có chế tài. Tuy nhiên những quan điểm này không chuẩn xác. Trên thực tế luật quốc tế có cơ chế đảm bảo thi hành và hệ thống chế tài đặc thù rất đa dạng.

- Về chủ thể:

  • Quốc gia: chủ thể chủ yếu
  • Tổ chức quốc tế liên chính phủ: chủ thể hạn chế 
  • Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập: chủ thể đặc biệt

- Đối tượng điều chỉnh: quan hệ quan hệ chính trị hoặc khía cạnh chính trị của các quan hệ kinh tế, xã hội, văn hóa… phát sinh trong quan hệ lên quốc gia giữa các quốc gia và thực thể quốc tế khác.

- Nguồn của Luật quốc tế: chủ yếu là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế; nguồn bổ trợ (án lệ, nghị quyết, học thuyết…)

- Trình tự xây dựng quy phạm: do chính các chủ thể thỏa thuận ban hành trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng. Không có cơ quan nào ở trên các chủ thế ban hành để ấn định các quyền và nghĩa vụ trong Điều ước quốc tế để làm cơ sở thi hành.

- Biện pháp cưỡng chế: Không có một cơ quan nào đứng trên các chủ thể Luật quốc tế có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà trong từng trường hợp cụ thể, các biện pháp này do chính các chủ thể thực hiện hay thông qua đấu tranh hay thông qua dư luận.

- Về bản chất: Luật quốc tế hiện đại thể hiện sự thỏa hiệp về lợi ích của các quốc gia tham gia quan hệ quốc tế trên cơ sở tương quan lực lượng giữa các quốc gia, các giai cấp cầm quyền của quốc gia trong quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau.

4. Vai trò của Luật quốc tế hiện đại

Luật quốc tế hiện đại có những vai trò chủ yếu như sau:

- Luật quốc tế là công cụ pháp lý quan trọng nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, loại trừ nguy cơ chiến tranh hạt nhân.

- Luật quốc tế được sử dụng như công cụ pháp lý đảm bảo quyền và lợi ích của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế.

- Luật quốc tế là công cụ phối hợp hành động giữa các quốc gia cùng giải quyết những vấn đề chung toàn cầu.

- Luật quốc tế ghi nhận chuẩn mực Pháp lý về quyền con người, đồng thời là công cụ của cộng đồng quốc tế bảo vệ quyền con người.

- Luật quốc tế là công cụ pháp lý giải quyết các tranh chấp phát sinh trong sinh hoạt quốc tế của các chủ thế Luật quốc tế.

- Luật quốc tế được nhìn nhận như những chuẩn mực công lý, công bằng đánh giá sự phải trái, “đúng” “sai” liên quan đến hành vi các quốc gia trong quan hệ quốc.

5. Quan hệ giữa Luật quốc tế và Luật quốc gia

5.1 Mối quan hệ giữa Luật quốc tế và Luật quốc gia

- Theo thuyết nhất nguyên luận: quan niệm pháp luật là một hệ thống thống nhất bao gồm hai bộ phận cấu thành là luật quốc tế và luật quốc gia được xếp theo thứ bậc trên, dưới. Thuyết nhất nguyên luận phân chia thành hai trường phái, đó là: trường phái ưu tiên Luật quốc tế và trường phái ưu tiên Luật quốc gia.

- Theo thuyết nhị nguyên luận: quan niệm Luật quốc tế và Luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật khác nhau, tồn tại độc lập và không có tác động qua lại lẫn nhau.

- Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, giữa Luật quốc tế và Luật quốc gia có mối quan hệ biện chứng được thể hiện trên hai phương diện sau:

  •  Luật quốc gia ảnh hưởng đến sự hình thành của luật quốc tế. Bản chất quá trình xây dựng các quy phạm Luật quốc tế mà quốc gia tiến hành thông qua phương thức thỏa thuận là quá trình đưa ý chí quốc gia vào nội dung của luật quốc tế. Ý chí này phản ánh tương quan lực lượng và tương quan lợi ích của các quốc gia, vì vậy, lợi ích quốc gia trở thành điều kiện cơ bản cho nhu cầu hợp tác, phát triển luật quốc tế.
  •  Luật quốc tế có tác động tích cực tới tiến trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc gia: Tính chất tác động của Luật quốc tế đối với Luật quốc gia được đánh giá bằng thực tiễn thực thi nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế của quốc gia, thể hiện ở những hành động cụ thể. VD như: nghĩa vụ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của luật quốc gia phù hợp với cam kết quốc tế của chính quốc gia đó. Chính trong quá trình này, Luật quốc tế đã có tác động đến Luật quốc gia.

5.2 Tính cưỡng chế của Luật quốc tế so với Luật quốc gia

- Luật quốc tế hiện đại là công cụ điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền bình đẳng với nhau. Các nguyên tắc và các quy phạm của luật quốc tế hiện đại do chính các quốc gia tự thỏa thuận xây dựng và chính các quốc gia đó tự thi hành, không phải do một cơ quan hay tổ chức nào đứng trên quốc gia đặt ra pháp luật và bắt các quốc gia thi hành.

- Các quốc gia tham gia thỏa thuận xây dựng các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế hiện đại có trách nhiệm thỏa thuận quy định các biện pháp cưỡng chế cần phải được áp dụng. Trong trường hợp không có thỏa thuận cụ thể về biện pháp cưỡng chế, theo tinh thần và nội dung của các nguyên tắc cơ bản LQT, các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế có quyền áp dụng các biện pháp cá thể hay tập thể để cưỡng chế việc thi hành.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)

 

Luậ

Đ

Đư