- 1. Điều kiện tiên quyết
- 2. Những điều kiện cụ thể để hợp đồng có hiệu lực:
- 2.1 Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
- 2.2 Thẩm quyền giao kết hợp đồng
- 2.3 Hình thức hợp đồng
- 2.4 Không vỉ phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội
- 2.5 Không giả tạo
- 2.6 Tự nguyện
- 2.7 Đối tượng của hợp đồng có thể thực hiện được
- 2.8 Hợp đồng không có điều khoản không công bằng đối với một bên
- 3. Kết luận
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Các điều kiện chính liên quan đến hiệu lực của hợp đồng lần lượt được phân tích dưới đây.
Cơ sở pháp lý:
Bộ luật Dân sự năm 2015;
Các văn bản luật chuyên ngành như: Luật thương mại năm 2005; Luật lao động năm 2019; Luật đầu tư năm 2020...
1. Điều kiện tiên quyết
Phần lớn các hợp đồng phức tạp là các hợp đồng có điều kiện. Hiểu một cách đơn giản, hợp đồng có điều kiện là loại hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một “sự kiện” nhất định. “Sự kiện” có thể được hiểu là điều kiện có ảnh hưởng đến việc thực hiện họp đồng. Nói cách khác, đây là các điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực hoặc một số nghĩa vụ quan trọng của hợp đồng có hiệu lực.
Như phân tích tại Chương 7, các điều kiện tiên quyết là một trong bốn nhóm điều khoản chính về mặt pháp lý có tính chất quan trọng mà các bên có liên quan sẽ xem xét để quyết định việc tham gia giao dịch. Các điều kiện tiên quyết này có thể là:
2. Những điều kiện cụ thể để hợp đồng có hiệu lực:
2.1 Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
Một trong những điều kiện có hiệu lực của họp đồng là năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của các bên ký kết. Để giao kết và thực hiện họp đồng, các bên cần có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với họp đồng được xác lập. Cá nhân cần cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Pháp nhân chỉ cần có năng lực pháp luật và khái niệm năng lực hành vi không áp dụng cho pháp nhân. Khi tham gia giao kết hợp đồng, nếu cá nhân và pháp nhân không có năng luật pháp luật và năng lực hành vi hoặc có nhưng không phù hợp với hợp đồng được xác lập thì hợp đồng có thể bị vô hiệu.
- Cá nhân: Năng lực pháp luật của cá nhân hiểu một cách đon giản là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ. về cơ bản, năng lực pháp luật của cá nhân là như nhau và có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Bên cạnh đó, năng lực pháp luật của cá nhân về nguyên tắc sẽ không bị hạn chế trừ khi bị hạn chế bởi Bộ luật Dân sự 2015 và các luật khác có liên quan.
- Pháp nhân: Pháp nhân chỉ có năng lực pháp luật dân sự mà không có năng lực hành vi dân sự. Do pháp nhân khi thực hiện hoạt động đều phải thông qua người đại diện hợp pháp của mình nên không đặt ra vấn đề năng lực hành vi dân sự đối với pháp nhân. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ phụ thuộc vào các hạn chế quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 và các luật khác có liên quan.
2.2 Thẩm quyền giao kết hợp đồng
Thẩm quyền của các bên (hoặc bên đại diện của các bên) được xác định dựa trên quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền của tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Ví dụ, pháp nhân có thể giao kết hợp đồng thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền.[1] Nếu điều lệ của pháp nhân quy định việc giao kết cần có sự chấp thuận của các cơ quan quản lý nội bộ (như hội đồng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn hay đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị trong công ty cổ phần) thì việc giao kết cũng cũng cần được chấp thuận như vậy. Hợp đồng không có hiệu lực nếu các bên (hoặc người đại diện của các bên) không có thẩm quyền giao kết hợp đồng.
Thẩm quyền đại diện để xác lập họp đồng có thể xác định trên cơ sở rõ ràng, ngầm định hoặc bề ngoài. Hợp đồng xác lập bởi cá nhân không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện có thể bị vô hiệu.
2.3 Hình thức hợp đồng
Hình thức của hợp đồng là sự thể hiện ra bên ngoài ý chí chung của các bên tham gia giao kết hợp đồng, về nguyên tắc, các bên có thể tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, bằng hành vi cụ thể hoặc bằng văn bản (kể cả dưới hình thức dữ liệu điện tử). Hình thức văn bản có thể là bằng giấy hoặc dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và và các hình thức tương tự khác (ví dụ, tin nhắn điện thoại). Trong một số trường hợp, hợp đồng bằng văn bản phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký. Hợp đồng nếu vi phạm điều kiện có hiệu lực về hình thức có thể bị vô hiệu. Giao kết hợp đồng bằng văn bản là hình thức chủ yếu trong các giao dịch thương mại phức tạp và các bên thông thường không giao kết bằng lời nói hoặc bằng hành vi.
Cần lưu ý rằng không phải mọi yêu cầu về hình thức hợp đồng đều được xem là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự 2015, điều kiện có hiệu lực về hình thức của hợp đồng phải đáp ứng hai đặc tính là hình thức hợp đồng cụ thể (ví dụ, bằng văn bản, công chứng, chứng thực hoặc đăng ký) là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và điều kiện đó do luật quy định. Cả hai đặc tính này cũng được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 tuy nhiên đặc tính thứ hai được quy định hạn chế hơn.
2.4 Không vỉ phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội
Trong pháp luật họp đồng Việt Nam, nguyên tắc tự do thỏa thuận luôn gắn liền với nguyên tắc bảo vệ lợi ích công cộng. Các bên có quyền tự do thỏa thuận về mọi vấn đề nhưng mục đích và nội dung họp đồng không được “vi phạm điều cấm của luật” hoặc “trái đạo đức xã hội.” Mục đích của hợp đồng là lợi ích mà một bên hoặc các bên mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng. “Điều cấm của luật” và “đạo đức xã hội” chính là những giới hạn được pháp luật đặt ra để thỏa thuận của các bên không xâm phạm đến lợi ích công cộng. Hợp đồng của các bên nếu không xâm phạm đến lợi ích công cộng sẽ có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được các chủ thể khác tôn trọng. Ngược lại, nếu hợp đồng của các bên xâm phạm đến lợi ích công cộng này thì hợp đồng có thể bị vô hiệu.
Dù được định nghĩa trong Bộ luật Dân sự 2015, “điều cấm của luật” hay “đạo đức xã hội” vẫn là những khái niệm không rõ ràng, khó xác định và có thể thay đối theo thời gian, không gian và đối tượng áp dụng và việc xác định và áp dụng đạo đức xã hội sẽ phụ thuộc vào từng vụ việc và quan điểm của cơ quan xét xử. Định nghĩa về “điều cấm của luật” trong Bộ luật Dân sự 2015 được thu hẹp một cách đáng kể so với Bộ luật Dân sự 2005 và tại thời điểm hiện nay chỉ bao gồm điều cấm được quy định trong luật và không bao gồm điều cấm quy định tại văn bản dưới luật. Tuy nhiên, phạm vi điều cấm vẫn không hoàn toàn rõ ràng và tòa án vẫn có xu hướng giải thích một cách quá rộng phạm vi điều cấm..
2.5 Không giả tạo
Một hợp đồng mang tính giả tạo có thể xâm phạm đến các lợi ích công cộng và do vậy không được pháp luật công nhận hiệu lực. Bất kỳ chủ thể nào cũng có thể yêu cầu tòa án hoặc trọng tài tuyên bố hợp đồng giả tạo vô hiệu, về bản chất, điều kiện “không giả tạo” có đặc điểm khá tương đồng với điều kiện “không vi phạm điều cấm của luật” hoặc “không trái đạo đức xã hội.” Hai điều kiện này đều nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và trong một số trường hợp họp đồng giả tạo có thể được coi là họp đồng có nội dung hoặc mục đích vi phạm điều cẩm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Hợp đồng quy định giao dịch giả tạo thường được các bên tạo lập để che giấu một giao dịch khác, hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Giao dịch giả tạo bị vô hiệu và giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 hoặc luật khác có liên quan.
2.6 Tự nguyện
Tự nguyện cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng. Các bên giao kết hợp đồng phải trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và tự do ý chí và đây là một điều kiện liên quan đến hiệu lực của hợp đồng.
Hợp đồng là sự thống nhất ý chí giữa các bên trong việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Nếu tồn tại bất kỳ vấn đề, sự kiện hoặc tình huống nào làm cho sự thống nhất ý chí giữa các bên bị khiếm khuyết hoặc không chính xác thì hợp đồng có thể bị vô hiệu. Các biểu hiện của sự không thống nhất ý chí hoặc sự trái ngược giữa biểu hiện ý chí với ý chí đích thực của các bên sẽ không hình thành nên một họp đồng có hiệu lực. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự nhầm lẫn hoặc lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép có thể bị vô hiệu.
2.7 Đối tượng của hợp đồng có thể thực hiện được
Hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được có thể bị vô hiệu. Do vậy, có thể suy luận là để hợp đồng có hiệu lực thì một trong các điều kiện là hợp đồng phải có đối tượng có thể thực hiện được ngay từ thời điểm giao kết và tiếp tục trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng.
2.8 Hợp đồng không có điều khoản không công bằng đối với một bên
Bảo vệ quyền của bên yếu thế là một xu hướng quan trọng trong pháp luật về họp đồng. Theo Bộ luật Dân sự 2015, một phần hoặc toàn bộ họp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung “không có hiệu lực” khi có các điều khoản không công bằng đối với một bên. về cơ bản, các điều khoản không công bằng bao gồm hai nhóm cơ bản là điều khoản giảm trách nhiệm của bên đưa ra họp đồng, và điều khoản tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của một bên.
3. Kết luận
Như vậy một hợp đồng, giao dịch dân sự để có hiệu lực thì phải đảm bảo điều kiện tiên quyết của hợp đồng và các điều kiện cụ thể kèm theo.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê