Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai
- 2. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng tại Tòa án
- 3. Cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng tại Tòa án
- 3.1 Pháp luật tố tụng dân sự
- 3.2 Pháp luật nội dung
- 4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng tại Tòa án
1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay cũng đã đưa ra khái niệm về thuật ngữ giải quyết tranh chấp đất đai.Từ khi có Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 93, Luật Đất đai năm 203 và Luật đất đai năm 2013 thì khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai đã được đề cập đến trong cac văn bản này. Tuy được xác định trong luật đất đai nhưng các yếu tố bên trong của khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai chưa được quy định rõ ràng và đặc biệt là được quy định trong phần giải thích về thuật ngữ. Từ điển Luật học đã được ban hành thì cũng chưa đưa ra định nghĩa về khái niệm TCĐĐ. Trong cuốn Giải thích Thuật ngữ Luật học năm 1999, thuật ngữ “ giải quyết TCĐĐ” mới được giải thích cụ thể như sau: “Giải quyết TCĐĐ: Giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.”. Như vậy, giải quyết TCĐĐ được hiểu là một phương thức giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức trên cơ sở đó phục hồi các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
Giải quyết TCĐĐ có một số đặc trưng cơ bản sau đây:
- Giải quyết TCĐĐ thực chất là một nội dung, yêu cầu đòi hỏi của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai được xác định trong Luật đất đai. Hoạt động giải quyết tranh chấp về đất đai thuộc phạm vi thẩm quyền của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau khi căn cứ vào luật pháp của nhà nước để tiến hành giải quyết tranh chấp.
- Tranh chấp đất đai thì thường khó giải quyết, nếu có giải quyết thì cũng kéo dài, nhiều đối tượng, nhiều tầng nấc, các bên khiếu nại đến cùng gây ra tình trạng khó khăn trong giải quyết hơn nhiều so với các loại tranh chấp khác..
- Thông qua tính chất tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, nên hoạt động giải quyết TCĐĐ phải dựa trên chính sách sở hữu đất đai.
- Việc giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam cần tôn trọng và căn cứ vào các yếu tố mang tính tâm lý, thị hiếu, phong tục, tập quán những yếu tố này tác động vào, làm cho hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai là dễ dàng hơnv.v...
2. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng tại Tòa án
Luật đất đai năm 2013 đã quy định về thẩm quyền giải quyết TCĐĐ theo hướng: giao nhiều loại việc TCĐĐ cho TAND giải quyết bằng thủ tục TTDS, giao loại việc TCĐĐ có tính chất đặc thù cho cơ quan hành chính có thẩm quyền.
Theo Hiến pháp năm 2013 và các văn bản khác thì ở Việt Nam chỉ duy nhất có Toà án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử.
Trong hoạt động thì TAND thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ tài sản của nhà nước công dân, bảo vệ quyền con người quyền công dân và bảo vệ công lý.Toà án là hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến nhất và lâu đời nhất, có lịch sử hàng nghìn năm tồn tại. Phán quyết của Tòa án có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp. Để đảm bảo sự công bằng, khách quan và công minh, pháp luật quy định cho Tòa án một cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Tóm lại, có thể thấy khác với quá trình giải quyết TCĐĐ của UBND, giải quyết TCĐĐ của TAND được xác định là hoạt động giải quyết thông qua hình thức tố tụng. Bắt đầu từ khi đương sự nộp đơn khởi kiện tại TAND, nếu xét thấy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì hướng dẫn đương sự nộp đơn và các tài liệu cần thiết để thụ lý vụ án. Kể từ thời điểm này, quá trình giải quyết TCĐĐ của TAND được tiến hành theo đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Kết quả của hoạt động giải quyết tranh chấp tại TAND là bản án hoặc quyết định của TAND.
Như vậy, thông qua việc phân tích trên, theo tác giả, khái niệm giải quyết TCĐĐ thông qua TAND được hiểu là hoạt động tố tụng của cơ quan TAND nhằm mục đích giải quyết những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật đất đai khi người khởi kiện có đủ điều kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án.
Bên cạnh những đặc điểm chung của việc giải quyết tranh chấp, việc giải quyết TCĐĐ thông qua Toà án nhân dân còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
- Việc giải quyết TCĐĐ thông qua Toà án chịu sự điều chỉnh của nhiều đạo luật có liên quan như Bộ luật TTDS, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, BLDS v.v... Điều này có nghĩa là trong quá trình giải quyết TCĐĐ, Toà án phải tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự của Bộ luật TTDS (các quy định về luật hình thức giải quyết vụ việc TCĐĐ); đồng thời, Thẩm phán khi thụ lý, giải quyết vụ việc phải căn cứ vào các quy định của Luật Đất đai, BLDS, Luật nhà ở v.v... để xác định chứng cứ cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người quản lý, sử dụng đất (các quy định về luật nội dung giải quyết vụ việc TCĐĐ).
- Hoạt động giải quyết TCĐĐ tại Tòa án bên cạnh việc tuân thủ nghiêm minh các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, còn phải tuân thủ các hướng dẫn cụ thể, trực tiếp của TAND tối cao về đường lối giải quyết TCĐĐ đối với từng loại việc, loại tranh chấp cụ thể. Mặt khác, Án lệ cũng là nguồn vô cùng quan trọng để người có thẩm quyền giải quyết áp dụng trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình.
- Hoạt động giải quyết TCĐĐ tại Tòa án khác với các hình thức giải quyết khác như: Hòa giải, giải quyết tranh chấp bằng con đường hành chính hay các phương thức giải quyết bằng Trọng tài… đó là khi thực hiện hoạt động giải quyết, Tòa án được quyền nhân danh nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong việc đưa ra các phán quyết của mình, ngoài Tòa án thì các phương thức giải quyết khác không có quyền này. Bên cạnh đó, các phán quyết của Tòa án về giải quyết TCĐĐđược thực thi bởi cơ quan thi hành án nên tính khả thi của các phán quyết sẽ đảm bảo hơn.
3. Cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng tại Tòa án
3.1 Pháp luật tố tụng dân sự
Thứ nhất, Toà án là một thiết chế của Nhà nước; hoạt động của Toà án là một hoạt động rất đặc biệt và mang tính kỹ năng nghề nghiệp cao. Toà án nhân dân được tổ chức theo một hệ thống độc lập nằm ngoài hệ thống cơ quan quản lý. Hơn nữa, Toà án có một đội ngũ Thẩm phán có năng lực, trình độ và kỹ năng xét xử chuyên nghiệp. Cơ chế vận hành của Toà án dựa trên nguyên tắc cơ bản “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Do đó, hoạt động xét xử của Tòa án đảm bảo tính chính xác, công minh. Thứ hai, Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước và xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, Tòa án trực tiếp thụ lý, giải quyết, các phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành. Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà không tự nguyện chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành án.
Thứ ba,Bảo đảm hoạt động xét xử của Tòa án là công khai sẽ tác động làm minh bạch cho hoạt động của Toà án. Người dân thông qua hoạt động này sẽ giám sát được hoạt động của Tòa án, bản án của tòa án từ đó sẽ có tính thuyết phục cao hơn, tranh tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài.
Thứ tư, trong quá trình giải quyết vụ án về đất đai thì hoạt động xét xử này của Tòa án phải đáp ứng được một yêu cầu chặt chẽ về thủ tục tố tụng với các khâu, các giai đoạn, các nhiệm vụ kế tiếp nhau, đảm bảo tính chính xác, tính phù hợp về yêu cầu từ đó khắc phục được những hạn chế, tồn tại của hoạt động giải quyết, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót có thể đặt ra trong yêu cầu.
Thứ năm, thẩm quyền theo loại vụ việc: Theo quan điểm đối mới của Đảng, toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc quy định của pháp luật TTDS. Việc xác định thẩm quyền của toà án theo loại thủ tục tố tụng nào phải căn cứ vào tính chất của loại quan hệ pháp luật nội dung mà toà án cần giải quyết. vệ và phát triển rừng thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án theo thủ tục TTDS.
3.2 Pháp luật nội dung
Trong lĩnh vực giải quyết TCĐĐ, Toà án nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử sở thẩm và phúc thẩm các vụ việc TCĐĐ.
TCĐĐ là một dạng tranh chấp dân sự nên việc giải quyết tranh chấp do Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) giải quyết. Đối với các vụ việc TCĐĐ do Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm thì việc giải quyết do Thẩm phán Toà dân sự thực hiện.
Các vụ việc TCĐĐ do TAND cấp huyện giải quyết bị kháng cáo sẽ do thẩm phán Toà dân sự Toà án nhân dân cấp tỉnh thực hiện, còn các vụ việc TCĐĐ do Tòa dân sự TAND cấp tỉnh thực hiện sẽ do Thẩm phán Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh thực hiện theo quy định của pháp luật TTDS.
4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng tại Tòa án
- Thứ nhất,Luật đất đai chòn nhiều chồng chéo, chưa đảm bảo yếu tố hệ thống chuẩn mực. Chính sách, pháp luật đất đai ở Việt Nam có sự khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử như trước năm 1980, pháp luật không cấm việc mua bán đất đai, sau năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 pháp luật nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai dưới mọi hình thức. Từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở đi, pháp luật lại cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Thứ hai, việc quản lý về đất đai còn rất lỏng lẻo dẫn đến khi có yêu cầu của Tòa án cung cấp chứng cứ, tài liệu để làm cơ sở xem xét giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nhiều khi cơ quan có thẩm quyền không cung cấp hoặc cung cấp thiếu chính xác, không xác định được tài liệu nào là xác thực làm cho việc phân tích, đánh giá, xem xét sự việc thiếu tính khách quan.
- Thứ ba, các chính sách về đất đai ban hành, sửa đổi nhiều, văn bản quy phạm pháp luật còn có nhiều mâu thuẫn, thiếu thống nhất hoặc quy định không cụ thể, có trường hợp mâu thuẫn giữa Luật đất đai và BLDS dẫn đến việc lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng rất khó khăn.
- Thứ tư, trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, đôi khi còn tồn tại những quan điểm khác nhau do trong một thời gian dài, nhiều quy định pháp luật về đất đai không phù hợp với thực tiễn cuộc sống, nếu giải quyết việc tranh chấp phù hợp với cuộc sống thì lại trái với quy định của pháp luật ở thời điểm giao dịch. Ví dụ: thời điểm cấm mua bán đất, nhưng vì nhu cầu cuộc sống, người dân vẫn tiến hành mua bán đất chui, đến thời sau này khi giá đất lên cao mới tranh chấp…
- Thứ năm, tính ổn định của pháp luật về đất đai rất thấp, đất đai gắn liền với người dân, mỗi gia đình, mỗi tổ chức kinh tế, xã hội, các quan hệ đất đai được hình thành ở những thời điểm khác nhau, nhưng khi pháp luật đất đai thay đổi, Nhà nước không kịp ban hành các văn bản để ổn định quan hệ hình thành trước đó, dẫn đến cách hiểu, vận dụng pháp luật khác nhau khi luật mới ra đời.
- Thứ sáu, trình độ, năng lực của đội ngũ Thẩm phán chưa ngang tầm với sự đòi hỏi của đời sống xã hội. Như trên đã phân tích, do chính sách pháp luật về đất đai thay đổi qua từng thời kỳ nên hệ thống các văn bản pháp luật đất đai thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với chính sách đất đai của Nhà nước.
- Thứ bảy, tính phức tạp của việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất. Thực tế giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất trong những năm qua cho thấy tính phức tạp của loại tranh chấp này được thể hiện ở nhiều phương diện như: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp, điều kiện để công nhận hợp đồng, cách xử lý đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng này bị vô hiệu....
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hành chính - Công ty Luật Minh Khuê