1. Khái quát hài hòa quy tắc xuất xứ trên phạm vi quốc tế
Công việc soạn thảo các quy tắc chung về xuất xứ được nhất trí phạm vi quốc tế đang được triển khai. Công việc này được thực hiện dựa trên cơ sở thỏa thuận đạt được trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm hài hòa hóa các quy định này và thành lập một ủy ban về Quy tắc Xuất xứ. Ủy ban Kỹ thuật về Quy tắc Xuất xứ được thành lập dưới sự bảo trợ của Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO) chịu trách nhiệm về công tác kỹ thuật. Một tuyên bố chung cũng đã được nhất trí tại WTO về vấn đề quy tắc xuất xứ ưu đãi (riêng).
2. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization - WTO) là tổ chức quốc tế đề ra và giám sát những qui tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới, với nỗ lực chính nhằm mở rộng hoạt động thương mại toàn cầu. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào năm 1995, là một tổ chức quốc tế giám sát các qui tắc thương mại toàn cầu giữa các quốc gia. Nó thay thế Thỏa thuận chung về Thuế quan và Thương mại năm 1947.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dựa trên các thỏa thuận được kí kết bởi hầu hết các quốc gia thương mại trên thế giới. Chức năng chính của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là giúp các nhà sản xuất hàng hóa và dịch vụ, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu bảo vệ và quản lí doanh nghiệp của họ. Tính đến năm 2019, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có 164 quốc gia thành viên, trong đó Liberia và Afghanistan là những thành viên mới nhất, đã tham gia vào tháng 7 năm 2016.
Về bản chất của WTO đó là:
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về cơ bản là một thực thể giải quyết tranh chấp hoặc hòa giải thay thế nhằm duy trì các qui tắc thương mại quốc tế giữa các quốc gia.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cung cấp một nền tảng cho phép các chính phủ thành viên đàm phán và giải quyết các vấn đề thương mại với các thành viên khác.
Trọng tâm chính của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là cung cấp các phương thức giao tiếp liên quan đến thương mại giữa các thành viên.
Ví dụ: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã hạ thấp các rào cản và thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia thành viên. Mặt khác, tổ chức này cũng duy trì các rào cản thương mại nếu hành động này mang lại ý nghĩa tác động tốt đến thương mại toàn cầu. Do đó, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cố gắng cung cấp các đàm phán hòa giải có lợi cho nền kinh tế toàn cầu.
Sau khi các cuộc đàm phán hoàn tất và một thỏa thuận được đề ra, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ đề nghị giải thích thỏa thuận đó trong trường hợp có tranh chấp trong tương lai. Tất cả các hiệp định của WTO đều bao gồm quá trình giải quyết, theo đó Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ tiến hành giải quyết xung đột một cách trung lập và hợp pháp.
Sẽ không thể có các cuộc đàm phán, hòa giải hoặc giải quyết nếu không có các hiệp định Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) làm nền tảng. Các hiệp định này đặt ra các qui tắc pháp lí nền tảng cho thương mại quốc tế mà Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) giám sát. Chúng ràng buộc một chính phủ quốc gia với một loạt các qui định phải tuân thủ khi thiết lập các chính sách thương mại trong tương lai. Các thỏa thuận này bảo vệ các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và xuất khẩu, đồng thời khuyến khích chính phủ các quốc gia đáp ứng các tiêu chuẩn xã hội và môi trường.
3. Quy tắc Xuất xứ
Các khu vực thương mại tự do được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tự do hóa thương mại bằng cách cắt giảm thuế đối với những mặt hàng xuất xứ từ các nước thành viên. Tuy nhiên tự do hóa không diễn ra tự động vì việc cắt giảm thuế còn phụ thuộc vào việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ. Quy tắc xuất xứ (ROO) áp dụng cho hàng nhập khẩu nhằm các mục đích sau:
- Xác định hàng hoá nhập khẩu thuộc diện được hưởng ưu đãi thương mại (như ưu đãi thuế quan, các biện pháp phi thuế quan…);
- Để thực thi các biện pháp hoặc công cụ thương mại, như thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, biện pháp tự vệ… (đối với hàng hoá có xuất xứ từ một số nước nhất định là đối tượng của các biện pháp và công cụ thương mại này);
- Để phục vụ công tác thống kê thương mại (như xác định lượng nhập khẩu và trị giá nhập khẩu từ từng nguồn khác nhau);
- Để phục vụ việc thực thi các quy định pháp luật về nhãn và ghi nhãn hàng hoá;
- Để phục vụ các hoạt động mua sắm của chính phủ theo quy định của pháp luật quốc gia đó và pháp luật quốc tế.
Quy tắc xuất xứ nhằm xác định sự hợp lệ của hàng nhập khẩu để được hưởng mức thuế ưu đãi. Nếu không có quy tắc xuất xứ, hiện tượng thương mại chệch hướng (trade deflection) sẽ rất khó ngăn chặn được khi hàng hóa nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA sẽ vào khu vực FTA thông qua nước thành viên áp dụng mức thuế thấp nhất đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA.
Quy tắc xuất xứ không chỉ là một công cụ kỹ thuật để thực thi FTA mà còn là một công cụ chính sách thương mại. Tuy nhiên, điều này có thể làm tăng chi phí tuân thủ mà các doanh nghiệp phải gánh chịu dưới hình thức giấy tờ và chi phí kế toán.
Trong thương mại quốc tế quy tắc xuất xứ được sử dụng để xác định quốc gia xuất xứ của một sản phẩm hàng hóa. Có hai loại quy tắc xuất xứ phổ biến phụ thuộc vào cách áp dụng, là các quy tắc ưu đãi và không ưu đãi về xuất xứ (19 CFR 102). Các quy tắc chính xác thực thi thì khác nhau tùy theo các thỏa thuận giữa các quốc gia.
Theo đó:
- Ưu đãi về quy tắc xuất xứ là một phần của một khu vực mậu dịch tự do hoặc một thỏa thuận thương mại ưu đãi bao gồm các nhượng bộ về thuế quan. Những thoả thuận thương mại này có thể là các hiệp định thương mại đơn phương, song phương hoặc khu vực (đôi khi còn gọi là đa phương). Các quy tắc xuất xứ xác định những sản phẩm nào có thể hưởng lợi từ ưu đãi thuế quan hoặc ưu đãi, nhằm tránh chuyển tải hàng hóa (Transshipment).
- Các quy tắc xuất xứ không ưu đãi được sử dụng để xác định nước xuất xứ cho một số mục đích nhất định. Những mục đích này có thể là hạn ngạch, chống bán phá giá, chống gian lận, thống kê hoặc ghi nhãn nguồn gốc.
Cơ sở cho các quy tắc không ưu đãi bắt nguồn từ Công ước Kyoto quy định rằng nếu một sản phẩm được thu hoạch toàn bộ hoặc sản xuất hoàn toàn trong phạm vi một quốc gia, sản phẩm sẽ được coi là có nguồn gốc ở nước đó. Đối với sản phẩm đã được sản xuất ở nhiều nước, sản phẩm sẽ được xác định có nguồn gốc ở nước mà đã có sự chuyển đổi cơ bản cuối cùng. Theo các quy tắc không ưu đãi một sản phẩm luôn có chính xác một quốc gia xuất xứ. Tuy nhiên, các quy tắc không ưu đãi có thể khác nhau giữa các quốc gia; cùng một sản phẩm có thể có nguồn gốc khác nhau tùy thuộc vào kế hoạch của một quốc gia được áp dụng. Thông thường, các quy tắc của quốc gia mà một sản phẩm đang được nhập khẩu áp dụng.
4. Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO)
Tiền thân của Tổ chức Thuê quan Thê giới là Hội đồng Hợp tác Thuế quan được thành lập năm 1952. Đây là một cơ quan độc lập liên chính phủ có thành viên là các nước trên phạm vi toàn thế giới với nhiệm vụ nâng cao hiệu quả và hiệu suất quản lý thuế quan. Năm 1994, Hội đồng có tên gọi giao dịch không chính thức là Tổ chức Thuế quan Thế giới -WCO với mục đích nêu bật đặc điểm và vị thế toàn cầu của cơ quan này.
Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO) là tổ chức quốc tế duy nhất hoạt động riêng biệt trong lĩnh vực thuế quan và tạo ra một diễn đàn cho nhiều đại biểu của đại đa số thành viên tham gia có thể giải quyết các vấn đề thuế quan một cách bình đẳng. Mỗi một thành viên có một đại diện với một phiếu bầu.
Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO) đưa ra cho các thành viên một loạt các công ước và nhiều công cụ quốc tế khác, trong đó quan trọng nhất là Công ước về Hệ thống Mã hoá và Mô tả hàng hoá hài hoà (1998) và Công ước Quốc tế về Đơn giản và Hài hoà hóa các thủ tục thuế quan (Công ước Tokyo-1974/ 1999)
Tình trạng trên đã biến đổi nhiều nhờ kết quả của câc cố gắng đạt được trong khuôn khổ GATT/WTO. Với 8 vòng đàm phán, kết thúc bằng Vòng đàm phấn Urugoay, thuế quan nhìn chung đã được cách giảm một cách mạnh mẽ và liên tục. Năm 1948 mức thuế quan trung bình là gần 40%, nhưng sau Vòng Urugoay chỉ còn dưới 5 %. Bên cạnh đó tỷ lệ phần trăm chung của mức thuế bắt buộc cũng đã tăng lên mạnh mẽ theo thời gian và đặc biệt là sau Vòng Urugoay. Các hạn chế định lượng trong ngành nông nghiệp bị tuyên bố là không họp pháp trong Vòng Urugoay nên đã được thay thế bằng thuế quan (còn gọi là thuế quan hoá) tuy vẫn còn một số ngoại lệ.
Nhờ kết quả của Vòng Đàm phám Urugoay tất cả các thành viên WTO đã chấp nhận mức thuế nông sản. Đối với hàng hoá công nghiệp, 98% thuế đã được các nước công nghiệp phát triển và các nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi chấp nhận trong khi con số các nước đang phát triển chấp nhận là 73%.
Tổ chức WCO phải nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan tới sự phối hợp hoạt động trong ngành thuế quan, như:
- Xem xét các khía cạnh kỹ thuật của các hệ thống thuế quan cùng các yếu tố kinh tế liên quan nhằm mục đích đề nghị các giải pháp thực tế để đạt được tính.hài hoà và nhất quán cao nhất;
- Soạn thảo các công ước thuế quan,
- Đề xuất các khuyến nghị để bảo đảm sự diễn giải và áp dụng thống nhất các công ước thuế quan,
- Đề xuất các khuyên nghị, trong khả năng hoà giải của mình, để giải quyết các tranh chấp liên quan đến sự diễn giải và áp dụng các công ước thuê quan (tuy nhiên WCO không phải là toà án và không thể đứng về một bên nào của vụ tranh chấp),
- Chủ động hoặc theo yêu cầu cung cấp thông tin và tư vấn về thuế quan cho các chính phủ có nhu cầu,
- Hợp tác với các Tổ chức liên Chính phủ khác về những vẫn đề thuộc thẩm quyền của mình.
=> Kết luận: Như vậy, Tổ chức Thuế quan Thế giới (WCO) là tổ chức quốc tế duy nhất hoạt động riêng biệt trong lĩnh vực thuế quan và tạo ra một diễn đàn cho nhiều đại biểu của đại đa số thành viên tham gia có thể giải quyết các vấn đề thuế quan một cách bình đẳng. Mỗi một thành viên có một đại diện với một phiếu bầu. Nó đưa ra cho các thành viên một loạt các công ước và nhiều công cụ quốc tế khác, trong đó quan trọng nhất là Công ước về Hệ thống Mã hoá và Mô tả hàng hoá hài hoà (1998) và Công ước Quốc tế về Đơn giản và Hài hoà hóa các thủ tục thuế quan (Công ước Tokyo-1974/ 1999)
5. Quy tắc xuất xứ hàng hóa phổ biến trên thế giới
Chúng ta có thể kể đến một số quy tắc xuất xứ hàng hóa phổ biến trên thế giới sau:
Quy tắc xuất xứ “Thuần túy” (Wholly Obtained)
Xuất xứ thuần túy là sản phẩm được sản xuất, khai thác, đánh bắt, thu lượm được hoàn toàn trong lãnh thổ của một bên tham gia hiệp định mà không tích hợp thêm bất cứ thành phần của quốc gia khác vào. Mỗi hiệp đinh thương mại có quy định khác nhau về xuất xứ thuần túy. Hình bên dưới là những quy định điển hình cho các sản phẩm có xuất xứ thuần túy.
Quy tắc “Hàm lượng giá trị khu vực” (Regional Value Content - RVC)
Khi hàng hóa không đáp ứng được quy tắc xuất xứ thuần túy. Nếu sản phẩm đáp ứng được các quy tắc sau đây có thể coi là xuất xứ và được hưởng ưu đãi thuế:
- Các nguyên vật liệu không có xuất xứ phải trải qua một quy trình chế biến/gia công đáng kể (sufficient working or processing)
- Đáp ứng yêu cầu về hàm lượng giá trị khu vực (regional value content – RVC) Mỗi hiệp định thương mại khác nhau sẽ có công thức tính hàm lương giá trị khu vực khác nhau:
Quy tắc “Chuyển đổi mã HS” (Tariff shift - CC, CTH, CTSH)
Bên cạnh quy tắc hàm lượng giá trị khu vực RVC, nếu sản phẩm đáp ứng được yêu cầu về chuyển mã HS thì cũng được xem như có xuất xứ và được hưởng ưu đãi thuế
Quy tắc “Chuyển đổi mã HS” quy định: mã HS của tất cả nguyên vật liệu không có nguồn gốc xuất xứ phải khác mã HS của sản phẩm. Có 3 cấp độ chuyển đổi mã HS.
Quy tắc De Minimis
Hàng hóa không đáp ứng được tiêu chí “Chuyển đổi mã HS” vẫn được coi là có xuất xứ nếu tỉ lệ nguyên vật liệu không có xuất xứ mà không đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi mã HS nhưng có giá trị chiếm tỉ lệ nhỏ không đáng kể so với giá của thành phẩm. Các hiệp định thương mại tự do khác nhau sẽ có quy định khác nhau về tỉ lệ không đáng kể này. Quy định phổ biến nhất là:
- Đối với mặt hàng dệt may, giày da (mã HS từ chương 50 đến chương 63) các nguyên vật liệu không có xuất xứ nhưng không đáp ứng được quy định chuyển đổi mã HS có tổng trọng lượng không vượt quá 10% so với trọng lượng hàng hóa hoặc giá trị của chúng không vượt quá 10% giá trị của hàng hóa.
- Đối với các hàng hóa không phải là hàng dệt may, giày da (mã HS nằm ngoài chương 50 đến chương 63) nguyên vật liệu không có xuất xứ nhưng không đáp ứng được quy định chuyển đổi mã HS có giá trị không vượt quá 10% giá trị của hàng hóa.
Quy tắc cộng gộp
Quy tắc này cho phép nếu hàng hóa có xuất xứ từ một bên tham gia hiệp định khi được sử dụng làm nguyên vật liệu để sản xuất các sản phẩm tiếp theo ở lãnh thổ bên kia thì được coi là có xuất xứ ở bên sản xuất sản phẩm tiếp theo đó.
Quy tắc vận chuyển trực tiếp
Hàng hóa khi đáp ứng được các yêu cầu về xuất xứ, để được hưởng ưu đãi thuế và các ưu đãi khác nếu có thì nó phải tuân thủ quy tắc về vận chuyển trực tiếp giữa các bên tham gia hiệp định. Trong trường hợp hàng hóa phải quá cảnh ở một hoặc nhiều quốc gia ngoài hiệp định thì phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Việc quá cảnh là cần thiết vì lý do địa lý hoặc do yêu cầu đặc biệt liên quan đến vận tải.
- Hàng hóa không tham gia vào giao dịch thương mại hoặc tiêu thụ tại nước quá cảnh
- Hàng hóa không trải qua bất kỳ công đoạn gia công nào khác ngoài việc dỡ và bốc xếp lại hoặc những công đoạn cần thiết để đảm bảo hàng hóa trong điều kiện tốt.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).