- 1. Quy tắc xuất xứ trong thương mại quốc tế là gì?
- 2. Ưu đãi về quy tắc xuất xứ là gì?
- 3. Không ưu đãi trong quy tắc xuất xứ là gì?
- 4. Xuất xứ hàng hóa là gì?
- 5. Mục đính của xuất cứ hàng hóa
- 5. Quy định chung về quy tắc xuất xứ trong Hiệp định CPTPP
- 6. Một số ngoại lệ đối với quy tắc xuất xứ trong Hiệp định CPTPP
- 7. Điều chỉnh trị giá nguyên liệu
1. Quy tắc xuất xứ trong thương mại quốc tế là gì?
Trong thương mại quốc tế quy tắc xuất xứ được sử dụng để xác định quốc gia xuất xứ của một sản phẩm hàng hóa. Có hai loại quy tắc xuất xứ phổ biến phụ thuộc vào cách áp dụng, là các quy tắc ưu đãi và không ưu đãi về xuất xứ (19 CFR 102). Các quy tắc chính xác thực thi thì khác nhau tùy theo các thỏa thuận giữa các quốc gia.
2. Ưu đãi về quy tắc xuất xứ là gì?
Ưu đãi về quy tắc xuất xứ là một phần của một khu vực mậu dịch tự do hoặc một thỏa thuận thương mại ưu đãi bao gồm các nhượng bộ về thuế quan. Những thoả thuận thương mại này có thể là các hiệp định thương mại đơn phương, song phương hoặc khu vực (đôi khi còn gọi là đa phương). Các quy tắc xuất xứ xác định những sản phẩm nào có thể hưởng lợi từ ưu đãi thuế quan hoặc ưu đãi, nhằm tránh chuyển tải hàng hóa (Transshipment).
3. Không ưu đãi trong quy tắc xuất xứ là gì?
Các quy tắc xuất xứ không ưu đãi được sử dụng để xác định nước xuất xứ cho một số mục đích nhất định. Những mục đích này có thể là hạn ngạch, chống bán phá giá, chống gian lận, thống kê hoặc ghi nhãn nguồn gốc.
Cơ sở cho các quy tắc không ưu đãi bắt nguồn từ Công ước Kyoto quy định rằng nếu một sản phẩm được thu hoạch toàn bộ hoặc sản xuất hoàn toàn trong phạm vi một quốc gia, sản phẩm sẽ được coi là có nguồn gốc ở nước đó. Đối với sản phẩm đã được sản xuất ở nhiều nước, sản phẩm sẽ được xác định có nguồn gốc ở nước mà đã có sự chuyển đổi cơ bản cuối cùng.
Để xác định chính xác những gì đã được chuyển đổi đáng kể cuối cùng, ba quy tắc chung được áp dụng:
- Thay đổi phân loại thuế quan (ở bất kỳ mức nào, mặc dù mức 4 chữ số là phổ biến nhất)
- Quy tắc giá trị gia tăng (ad valorem)
- Quy trình xử lý đặc biệt, sự chuyển đổi tối thiểu được mô tả. Ví dụ, trong các quy tắc xuất xứ không ưu đãi của EU đối với áo thun (HS6109), nguồn gốc được cho là ở nước đã hoàn thiện việc gia công cuối cùng.
Theo các quy tắc không ưu đãi một sản phẩm luôn có chính xác một quốc gia xuất xứ. Tuy nhiên, các quy tắc không ưu đãi có thể khác nhau giữa các quốc gia; cùng một sản phẩm có thể có nguồn gốc khác nhau tùy thuộc vào kế hoạch của một quốc gia được áp dụng. Thông thường, các quy tắc của quốc gia mà một sản phẩm đang được nhập khẩu áp dụng.
4. Xuất xứ hàng hóa là gì?
Xuất xứ hàng hóa (từ tiếng Anh: Certificate of Origin, thường viết tắt là CO) là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó.
5. Mục đính của xuất cứ hàng hóa
Thứ nhất: Để xác định sản phẩm nhập khẩu được hưởng ưu đãi về thuế suất hay không: Xuất xứ hàng hoá có liên quan đến việc tính thuế quan nhập khẩu, cụ thể là đến việc vận dụng mức thuế (thuế ưu đãi, hoặc thuế bình thường hay thuế trả đũa), đến những thủ tục hải quan (nếu hàng đến từ các nước trong nhóm thì thủ tục có thể đơn giản, nếu hàng đến từ các nước ngoài nhóm có thể bị kiểm tra, khám xét kỹ càng hơn). Chính sách thương mại của các quốc gia và thoả thuận thương mại khu vực đôi khi có sự phân biệt. Việc xác định được xuất xứ hàng hoá giúp có thể phân biệt được đâu là hàng nhập khẩu được hưởng ưu đãi để áp dụng chế độ ưu đãi theo các thoả thuận thương mại đặc biệt và đâu là hàng không được hưởng ưu đãi.
Thứ hai: Để thiết lập biện pháp và là công cụ của chính chính sách thương mại; Xác định xuất xứ hàng hoá còn có tác dụng trong việc thực hiện chính sách thương mại của một nước hay một khối nước dành cho nước hay khối nước cụ thể nào khác. Trong các trường hợp khi hàng hóa của một nước được phá giá tại thị trường nước khác, việc xác định được xuất xứ khiến các hành động chống phá giá và việc áp dụng thuế chống trợ giá trở nên khả thi.
Thứ ba: Mục đích thống kê thương mại của một quốc gia: xác định xuất xứ hàng hoá là yếu tố cần thiết cho việc thu thập số liệu thống kê thương mại. Xác định xuất xứ khiến cho việc biên soạn các số liệu thống kê thương mại hàng năm được tiến hành dễ dàng hơn. Như vậy, việc xác định xuất xứ hàng hoá là chỉ tiêu quan trọng cho việc đánh giá chất lượng, là công cụ để thực hiện chính sách thương mại trong quan hệ song phương và đa phương của các quốc gia. Trong điều kiện hiện nay, khi việc gia nhập các liên kết kinh tế thương mại khu vực và thế giới trở thành một xu thế, một nhu cầu bức thiết nhằm duy trì và đẩy mạnh quan hệ thương mại, thì việc xác định xuất xứ hàng hoá càng có ý nghĩa quan trọng. Ngoài ra, xuất xứ hàng hoá là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hàng hoá, nhất là những sản phẩm thô và đặc sản. Xuất xứ hàng hoá giúp chúng ta hình dung được nguồn gốc, quê hương, nơi sản xuất của hàng hoá, từ đó chúng ta có thể nhìn nhận hay đánh giá được chất lượng của hàng hoá đó.
5. Quy định chung về quy tắc xuất xứ trong Hiệp định CPTPP
Các cam kết này được quy định chung tại lời văn Chương 3 về Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ và quy định cụ thể tại Phụ lục 3-D của Chương 3 về Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng.
Hiệp định CPTPP quy định 3 phương pháp để xác định xuất xứ của một hàng hóa, bao gồm: (i) hàng hóa có xuất xứ thuần túy (Wholly Obtained - WO); (ii) hàng hóa được sản xuất từ nguyên liệu trong khu vực CPTPP (Produced Entirely from originating materials - PE); và (iii) quy tắc cụ thể mặt hàng (Product Specific Rules - PSR).
Theo đó, một sản phẩm hàng hóa sẽ được coi là đáp ứng yêu cầu về xuất xứ và được hưởng ưu đãi nếu thuộc một trong ba trường hợp sau đây:
Hàng hóa có xuất xứ thuần túy là hàng hóa được trồng, thu hoạch hoặc đánh bắt ở trong khu vực các nước đối tác CPTPP. Ví dụ: Cây trồng, hoa màu như lúa gạo, tiêu, cà phê…; động vật sống như lợn, gà, bò, cừu, tôm, cá…
Trường hợp 2: Sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu trong khu vực các nước CPTPP.
Một sản phẩm hàng hoá có thể được sản xuất từ các nguyên liệu có nguồn gốc khác nhau. Quy tắc cộng gộp trong Hiệp định CPTPP cho phép các nước CPTPP được coi nguyên liệu của một nước CPTPP như là nguyên liệu của nước mình khi sử dụng nguyên liệu đó để sản xuất ra một hàng hóa có xuất xứ CPTPP.
Ví dụ: Tivi được sản xuất tại Việt Nam từ linh kiện điện tử ở Việt Nam, màn hình ở Ma-lai-xi-a, thiết bị điều khiển ở Nhật Bản (Nhật Bản, Việt Nam và Ma-lai-xi-a đều là các nước tham gia CPTPP) nên Tivi được coi là có xuất xứ CPTPP.
Trường hợp 3: Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng (PSR) Đây là trường hợp phổ biến nhất hiện nay vì có rất nhiều sản phẩm được cấu thành từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau, và các nguyên liệu đó được sản xuất ở các chuỗi cung ứng toàn cầu tại nhiều quốc gia khác nhau để năng cao năng suất và tiết kiệm chi phí.
Theo Hiệp định CPTPP, hàng hóa được sản xuất tại các nước CPTPP không sử dụng nguyên liệu có xuất xứ hoàn toàn từ các nước CPTPP nhưng đáp ứng được quy tắc quy định trong Phụ lục 3-D của Chương 3 về Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng (PSR) thì vẫn được coi là hàng hoá có xuất xứ CPTPP và được hưởng ưu đãi.
6. Một số ngoại lệ đối với quy tắc xuất xứ trong Hiệp định CPTPP
- “CTC ex from” là việc loại trừ một số mã HS nhất định khi áp dụng phương pháp CTC. Nếu mã HS của nguyên liệu trùng với mã HS được liệt kê tại cụm từ “loại trừ một số mã HS nhất định” hoặc “ex from” thì phương pháp CTC không được áp dụng trong trường hợp này. Nguyên liệu đó buộc phải chứng minh có xuất xứ trong các nước CPTPP để được hưởng ưu đãi.
- “De Minimis” là “tỷ lệ không đáng kể nguyên liệu không đáp ứng được tiêu chí CTC” nhưng thành phẩm vẫn được coi là có xuất xứ nếu tỷ lệ đó không vượt quá ngưỡng quy định, cụ thể là 10% đối với Hiệp định CPTPP. Điều này có nghĩa trong quá trình sản xuất sản phẩm giày dép, nguyên liệu không đáp ứng được quy tắc CTC chỉ được chiếm nhiều nhất là 10% giá trị của sản phẩm này. Mấu chốt của quy tắc linh hoạt De minimis là hàng hóa thành phẩm vẫn phải trải qua quá trình “chuyển đổi cơ bản” thông qua quy tắc CTC, tức là doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu về để sản xuất thực.
Vì lý do nào đó, một phần nguyên liệu không đáp ứng được quy tắc CTC thì hàng hóa thành phẩm vẫn đạt xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP. Cần lưu ý thêm rằng quy tắc này không áp dụng cho quy tắc hàm lượng giá trị khu vực (RVC).
Quy tắc hàm lượng giá trị khu vực (RVC)
Quy tắc hàm lượng giá trị khu vực quy định một tỷ lệ nhất định, theo đó nguyên liệu hàng hoá đáp ứng được tỷ lệ này sẽ được coi là đáp ứng yêu cầu xuất xứ hàng hoá và được hưởng ưu đãi theo CPTPP.
Hiệp định CPTPP quy định 4 công thức tính RVC, bao gồm: Công thức tính giá trị tập trung (Focused Value Method), công thức tính chi phí tịnh (Net Cost Method), công thức tính gián tiếp (Build-down Method) và công thức tính trực tiếp (Build-up Method).
7. Điều chỉnh trị giá nguyên liệu
Điều chỉnh tăng các trị giá cho các nguyên liệu có xuất xứ và điều chỉnh giảm các nguyên liệu không có xuất xứ với các chi phí sau:
- Chi phí vận chuyển, bảo hiểm, đóng gói, và tất cả các chi phí khác phát sinh trong quá trình vận chuyển nguyên liệu tới nơi sản xuất hàng hóa;
- Các loại thuế và chi phí môi giới hải quan cho nguyên liệu đã thanh toán tại lãnh thổ của một hoặc các Bên, trừ các loại thuế đã được miễn, được hoàn, có thể hoàn hoặc có thể thu hồi khác, bao gồm cả tín dụng đối với thuế hoặc thuế đã trả hoặc có thể trả; và
- Chi phí chất thải và sự hư hỏng do việc sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất hàng hóa, trừ đi trị giá của phế liệu có thể sử dụng lại hoặc bán thành phẩm.
Nguyên tắc tra cứu Việc tra cứu PSR đối với các mặt hàng giày dép trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Xác định đúng và đầy đủ các nguyên liệu không có xuất xứ CPTPP, bao gồm mã HS và trị giá của các nguyên liệu đấy;
- Chỉ áp dụng ngoại lệ de minimis đối với quy tắc chuyển đổi mã số hàng hoá (CTC). De minimis không được áp dụng trong quy tắc RVC.