1. Khái niệm về tranh chấp thương mại

Dựa trên quy định tại Điều 3 của Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại được định nghĩa là những hành vi được thực hiện với mục đích tạo ra lợi nhuận, bao gồm mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác có mục đích thu lợi. Từ khái niệm này, ta có thể hiểu rằng tranh chấp thương mại là những xung đột hoặc mâu thuẫn giữa hai bên liên quan đến quyền và nghĩa vụ trong quá trình kinh doanh thương mại.

Có nhiều phương thức để giải quyết tranh chấp thương mại. Theo quy định tại Điều 317 của Luật Thương mại năm 2005, các hình thức giải quyết tranh chấp cụ thể bao gồm:

- Thương lượng trực tiếp giữa các bên liên quan.

- Hoà giải được thực hiện thông qua một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian.

- Giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài hoặc tại Toà án.

Các quy trình giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài hoặc Toà án được tiến hành theo các quy định tố tụng cụ thể được quy định bởi pháp luật. Tại bài viết này, chúng ta sẽ giải đáp thắc mắc liên quan đến giải quyết tranh chấp thương tại tại cơ quan có thẩm quyền là Trọng tài.

2. Ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài

2.1. Thỏa thuận về ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là gì?

Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”. Theo đó có thể hiểu thỏa thuận về ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc sử dụng ngôn ngữ chung để giải quyết bằng tố tụng trọng tài.

2.2. Quy định của pháp luật trọng tài về thỏa thuận ngôn ngữ giải quyết tranh chấp

Căn cứ theo Điều 10 Luật Trọng tài thương mại quy định về ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài như sau:

- Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt.

- Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận.

So với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã mở rộng trường hợp theo đó các bên được thỏa thuận chọn ngôn ngữ cho tố tụng trọng tài. Cụ thể, Luật đã bổ sung thêm trường hợp “tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”.

Trong thực tế, thông thường hội đồng trọng tài của các trung tâm, tổ chức trọng tài chấp nhận ngôn ngữ do các bên thỏa thuận khi tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

2.3. Hình thức thỏa thuận ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Thỏa thuận ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải được xác lập bằng văn bản hoặc các hình thức khác được coi là văn bản như:

- Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

- Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên.

- Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên.

- Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác.

- Qua trao đổi về đơn kiện và bản thân tự bảo vệ mà trong đó có thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa và bên kia không phủ nhận.

2.4. Thời điểm xác lập thỏa thuận ngôn ngữ giải quyết tranh chấp

Pháp luật trọng tài cho phép các bên thỏa thuận chọn ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng không quy định thời điểm các bên được thỏa thuận về ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nên có thể hiểu các bên được quyền thỏa thuận chọn ngôn ngữ cho tố tụng trọng tài ở bất kỳ thời điểm nào.

Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 thì tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài thương mại là “tranh chấp có thể phát sinh” hoặc “đã phát sinh”. Như vậy, thời điểm hai bên thỏa thuận về ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có thể là trước khi tranh chấp giữa hai bên xảy ra hoặc vào thời điểm sau khi có tranh chấp đã xảy ra.

Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài được xác lập trước khi tranh chấp xảy ra.

Thứ hai, thỏa thuận trọng được xác lập sau khi tranh chấp đã xảy ra.

2.5. Giá trị pháp lý của thỏa thuận về ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

- Ngôn ngữ được sử dụng trong tố tụng trọng tài là vấn đề không nhỏ giúp việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm chi phí.

- Việc lựa chọn, thỏa thuận ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có thể ảnh hưởng tới sự lựa chọn trọng tài viên, hiệu quả của chứng cứ, sự phức tạp trong thẩm định, sự cần thiết phải dịch tài liệu và những vấn đề khác.

- Trong tố tụng trọng tài thương mại, trong nhiều trường hợp ngôn ngữ trong tố tụng do các bên định đoạt và không nhất thiết là ngôn ngữ tiếng Việt. Khi các bên định đoạt hay nói chính xác là thỏa thuận về ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, thỏa thuận này ràng buộc các bên cũng như trọng tài với những hệ quả rất quan trọng.

3. Hệ quả pháp lý khi không có thỏa thuận về ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Việc trao cho hội đồng trọng tài quyết định ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài khi các bên tranh chấp không có thỏa thuận về vấn đề này tạo ra một hệ quả:

- Hội đồng trọng tài được quyền sử dụng trực tiếp tài liệu bằng ngôn ngữ khác.

- Khi hội đồng trọng tài quyết định ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì không nhất thiết phải dịch các tài liệu bằng ngôn ngữ khác sang ngôn ngữ đã được lựa chọn cho tố tụng trọng tài. Đây là điểm khác biệt rất lớn của tố tụng trọng tài so với tố tụng dân sự tại Tòa án.

Quy định được hiểu như trên giúp đẩy nhanh quá trình tố tụng trọng tài và giảm thiểu chi phí tố tụng nhưng có thể ảnh hưởng đến lợi ích của một hoặc các bên nếu bên này không thể tự hiểu các tài liệu bằng thứ tiếng khác ngôn ngữ trọng tài.

Có thể mang phiên dịch vào tố tụng Trọng tài khi người tham gia không biết tiếng Việt hay không?

Theo Điều 10 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về ngôn ngữ như sau:

"1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt.

2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định."

Như vậy, theo quy định hiện hành thì trong trường hợp đăng ký thực hiện việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thì đương sự có yếu tố nước ngoài khi không biết tiếng Việt có thể chọn người phiên dịch ra tiếng Việt.

Hãy dùng dịch vụ của chúng tôi để nhận được sự tư vấn chuyên nghiệp và hiệu quả từ đội ngũ luật sư tại Luật Minh Khuê. Quý vị có thể liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại hotline 1900.6162 hoặc gửi email tới địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết cung cấp giải pháp pháp lý toàn diện và đáng tin cậy cho mọi vấn đề pháp lý mà Quý vị đang phải đối mặt. Hãy để Luật Minh Khuê đồng hành cùng bạn trên con đường bảo vệ quyền lợi và lợi ích của mình.