Em chào luật sư em muốn hỏi luật sư. Em cho bạn em vay 10 triệu mà từ ngày mùng 6/3/2015 hẹn tới ngày 6/8/2015 bạn em trả cho em. Trong lúc ký kết 2 bên đã trao đổi mức lãi và đã có thỏa thuận từ trước là 5 nghìn đồng trên 1 triệu và bạn ấy đồng ý với mức lãi suất đó. Nhưng trong giấy ký kết hợp đồng em và bên B không ghi mức lãi suất và chỉ ghi vay số tiền là 10 triệu và hẹn tới ngày và trả thôi và hiện giờ là tới ngay 20/5/2016 bạn ấy vẫn chưa trả hết cho em và còn thiếu của em 2tr. Vậy em muốn hỏi ý kiến luật sư làm thế nào để em đòi được tiền cho đúng nghĩa ạ.

Khi bạn cho người sinh viên đó vay tiền và có giấy nợ giữa 2 người đã giao kết hợp đồng vay tài sản. Vì vậy căn cứ theo điều 474, Bộ luật dân sự 2005 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

..."

 trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ thì căn cứ theo điều 302, Bộ luật dân sư 2005 về vi phạm nghĩa vụ dân sự 

"Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền."

>> Xem thêm:  Trình tự sang tên khi mua bán xe máy ở tiệm cầm đồ ?

Vì vậy, khi bên vay không trả được tiền thì bạn có thể nạp đơn lên tòa án yêu cầu bên vay thực hiện hợp đồng

anh (chị) có thể lấy giúp e một tình huống có tranh chấp dân sự mà hai người tranh chấp ở hai địa phương khác nhau và có tập quán khác nhau không ạ. Và khi đó thì giải quyết như thế nào ạ ?

Tình huống anh Nguyễn Văn A quê ở xã PH A, huyện CT, tỉnh HG đã ngỏ ý muốn mua bưởi Phúc Trạch của nhà anh Nguyễn Văn B quê ở xã PT, huyện HK, tỉnh HT để bán vào dịp Tết cho người dân trong này. Vì vốn có quan hệ là anh em họ với nhau, A và B đã tin tưởng lẫn nhau mà không làm hợp đồng bằng văn bản khi mua bán.

B đồng ý bán tám chục quả bưởi năm roi cho A, hẹn ngày 25/12/2014 giao hàng tại nhà của anh A ở xã PH A, huyện CT, tỉnh HG, giá mỗi quả bưởi năm roi là 30.000 đồng ( ba mươi nghìn đồng), giá này đã cộng thêm phí vận chuyển. Ngay sau đó, B có ghi trong giấy nhớ nhắc nhở giao hàng là: “tám chục quả bưởi năm roi tại PH A, CT, HG và số điện thoại của anh A 0902538XXX”. Anh A đã trả trước cho anh B số tiền là 500.000 đồng( năm trăm nghìn đồng) coi như tiền đặt cọc.

Khi thỏa thuận mua bán và trả tiền thì đều có anh S là người làm vườn của nhà anh A chứng kiến. Đến ngày giao hàng, anh B đích thân bàn giao số bưởi như đã thỏa thuận với anh A ngày 20/12/2014 tại nhà của anh A. Tuy nhiên, sau khi kiểm hàng A đã báo với B là số lượng bưởi thiếu nhiều,không đúng như trong hợp đồng. Cụ thể theo anh A thì số lượng bưởi mà anh B phải giao là tám chục quả, tương đương 112 quả, nhưng ở đây chỉ có đúng 80 quả. Thiếu 32 quả nên anh A không thể giao hàng cho những người đã đặt mua bưởi năm roi của anh. Như vậy,theo anh A thì một chục tương đương 14 quả( mười bốn quả). Sau đó hai bên xảy ra tranh chấp. Vì B cho rằng một chục bằng 10 (mười) quả nên số bưởi B giao là 80 (tám mươi) quả là đã đủ số lượng như đã thỏa thuận. Do hai bên không thỏa thuận được với nhau về số lượng bưởi phải giao, nên sau đó, B đã gửi đơn khiếu nại lên Ủy ban nhân dân xã PH A để nhờ giải quyết tranh chấp.

Hướng giải quyết:

Theo quy định tại điều 126, điều 409 Bộ luật Dân sự 2005 

Điều 126. Giải thích giao dịch dân sự

1. Trong trường hợp giao dịch dân sự có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì việc giải thích giao dịch dân sự đó được thực hiện theo thứ tự sau đây:

a) Theo ý muốn đích thực của các bên khi xác lập giao dịch;

b) Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch;

>> Xem thêm:  Hợp lý hóa giấy tờ hóa đơn mua bán nhà đất ?

c) Theo tập quán nơi giao dịch được xác lập.

2. Việc giải thích hợp đồng dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 409 của Bộ luật này, việc giải thích nội dung di chúc được thực hiện theo quy định tại Điều 673 của Bộ luật này.

Điều 409. Giải thích hợp đồng dân sự

1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó.

2. Khi một điều khoản của hợp đồng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa thì phải chọn nghĩa nào làm cho điều khoản đó khi thực hiện có lợi nhất cho các bên.

3. Khi hợp đồng có ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với tính chất của hợp đồng.

4. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.

5. Khi hợp đồng thiếu một số điều khoản thì có thể bổ sung theo tập quán đối với loại hợp đồng đó tại địa điểm giao kết hợp đồng.

6. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng.

7. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về chủ thể hợp đồng phải đáp ứng điều kiện pháp lý nào ?

8. Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế.

Như vậy trường hợp này khi các bên có sự mâu thuẫn về cách giải thích nội dung của hợp đồng mua bán bưởi mà không có ý chí chung của các bên sẽ áp dụng giải thích theo tập quán tại địa điểm mà giao kết giao dịch tức là tập quán tại HG tương đương với một chục bằng 14 quả. Bạn muốn có sự cân bằng lợi ích giữa các bên thì theo như thỏa thuận các bên đã ký, giá cả được tính theo số lượng quả, vậy mỗi quả được bên B giao thêm cũng được thanh toán như giá đã thỏa thuận. 

Luật Minh Khuê cho cháu hỏi cách thức để giải quyết một vụ việc dân sự về xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu đuợc tìm thấy có sự tranh chấp của nhiều chủ thể ?

Điều 241. Xác lập quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên

1. Người nhặt được vật do người khác đánh rơi hoặc bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại vật cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Uỷ ban nhân dân hoặc công an cơ sở đã nhận vật phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

2. Sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai về vật nhặt được mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận, nếu vật có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì vật đó thuộc sở hữu của người nhặt được; nếu vật có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc Nhà nước.

3. Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên là di tích lịch sử, văn hoá mà sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai, không xác định được chủ sở hữu hoặc không có người đến nhận thì vật đó thuộc Nhà nước; người nhặt được vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp gia đình bà Kịch không chứng minh được đây là tài sản của mình bị bỏ quên, đánh rơi thì theo quy định tại Điều 240 BLDS sẽ giải quyết như sau:

Điều 240. Xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy

Vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với vật đó được xác định như sau:

>> Xem thêm:  Đất chưa có sổ đỏ có thể bán được không ?

1. Vật được tìm thấy là di tích lịch sử, văn hoá thì thuộc Nhà nước; người tìm thấy vật đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;

2. Vật được tìm thấy không phải là di tích lịch sử, văn hoá, mà có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu vật tìm thấy có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc Nhà nước.

Xin luật sư tư vấn tôi vấn đề như sau và hướng dẫn tôi giải quyết vấn đề: Bà nội tôi ở cùng 2 vợ chồng con trai út đã mấy chục năm nay. Mọi tài sản đều đứng tên của bà nội, cho đến năm 2013 có đưa giấy chứng nhận QSDĐ (quyền sử dụng đất) cho con dâu giữ giúp. Nhưng không ngờ cô con dâu đã tự ý chuyển đổi đứng tên mình mà không ai hay biết gì trong khi bà nội tôi không viết giấy ủy quyền hay cho tặng gì cả? Rất mong luật sư giúp cho tôi cách giải quyết vấn đề trên

 Về trường hợp của bạn, Đất đứng tên bà nội bạn và không thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho gì cả mà con dâu đã sang tên quyền sử dụng đất là vi phạm pháp luật vì vậy bà bạn có thể khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cô con dâu 

căn cứ:

Tòa án có quyền hủy GCNQSD đất khi có căn cứ xác định quyết định cấp GCN đó là trái pháp luật. Thể hiện qua các quy định sau:

- Điều 163 Luật TTHC - Thẩm quyền của Hội đồng xét xử

1. Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan.

2. Hội đồng xét xử có quyền quyết định:

a) Bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật;

b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;

>> Xem thêm:  Không có sổ đỏ có bán được nhà không ?

- Điều 32a BLTTDS sửa đổi - Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức

1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.

2. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó được Tòa án xem xét trong cùng vụ việc dân sự. Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đó được xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính.

- Điều 2 Thông tư số 01/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP - Xác định quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật

1. Quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật có thể bị Tòa án xem xét hủy khi giải quyết vụ việc dân sự nếu có đủ các điều kiện sau đây:

a) Quyết định cá biệt là quyết định hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính và hướng dẫn tại điểm a và b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính.

b) Quyết định cá biệt được ban hành không đúng thẩm quyền, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án đang có nhiệm vụ giải quyết.

2. Tòa án xem xét hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật khi đương sự có yêu cầu bằng văn bản hoặc trình bày yêu cầu tại Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.

Xin luật sư tư vấn cho tôi.Tôi cho bạn mượn số tiền hon 30 triệu đồng nhưng vì tin tưởng mà không có giấy tờ gì.Bây giờ đòi người đó không trả.xin hỏi luật sư tôi có cách nào để lấy lại được tài sản của mình không ?

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

>> Xem thêm:  Có thể ký hợp đồng mua nhà khi đang làm thủ tục thừa kế ?

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

..."

 trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ thì căn cứ theo điều 302, Bộ luật dân sư 2005 về vi phạm nghĩa vụ dân sự 

"Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền."

Vì vậy, khi bên vay không trả được tiền thì bạn có thể nạp đơn lên tòa án yêu cầu bên vay thực hiện hợp đồng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự

>> Xem thêm:  Những điều cần biết mua lại công ty trách nhiệm hữu hạn.

>> Xem thêm:  Mức phạt khi tàng trữ, sử dụng pháo nổ theo quy định pháp luật mới nhất ?