Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê.
Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời: Chào bạn, chúng tôi xin gửi lời chào chân trọng và lời cám ơn bạn đã tin tưởng dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề thắc mắc của bạn chúng tôi sẽ trả lời như sau:
1. Hiệu lực của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được ban hành ngày 08/06/2000, có hiệu lực kể từ ngày 31/12/2000, hiện đã hết hiệu lực và thay thế bằng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành ngày 18/06/2014 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 31/12 năm 2014. Hai văn bản này đều điều chỉnh vấn đề hôn nhân và gia đình nhưng văn bản năm 2014 còn hiệu lực áp dụng. Nhưng theo câu hỏi của bạn thì do bạn đang học môn luật hôn nhân và gia đình nên việc áp dụng sử dụng luật nào sẽ phụ thuộc vào giáo viên dạy bạn, cho bạn biết khi nào sẽ sử dụng Luật hôn nhân và gia đình 2014 và khi nào sẽ sử dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Nếu giáo viên đưa ra những tình huống thời điểm Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 còn hiệu lực thì văn bản này sẽ được áp dụng còn nếu đưa ra những tình huống mà luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thì sẽ áp dụng văn bản này. Do bạn đang học nên giáo viên của bạn sẽ đưa ra các tình huống vừa áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 vừa áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để bạn có thể so sánh. Trên thực tế Văn bản luật năm 2000 đã hết hiệu lực và tất cả các vụ việc xảy ra hiện nay đều sẽ được áp dụng văn bản luật năm 2014.
2. Điều khoản chuyển tiếp
- Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết.
- Đối với vụ việc về hôn nhân và gia đình do Tòa án thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa giải quyết thì áp dụng thủ tục theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Không áp dụng Luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình trước ngày Luật này có hiệu lực.
3. Đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt
Câu hỏi: Chào công ty Luật Minh Khuê , tôi và vợ tôi chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, vợ tôi mang thai và sinh được bé gái. Tôi đăng ký khai sinh cho con nhưng do không đăng ký kết hôn nên không ghi họ tên cha trong giấy khai sinh của con. Một thời gian sau, do cuộc sống quá khó khăn, vất vả, vợ tôi bỏ đi, để lại con cho tôi nuôi dưỡng và không liên lạc được. Đến tháng 9/2020, con tôi đủ tuổi đi học và tôi muốn làm thủ tục nhận con. Luật sư cho tôi hỏi là tôi phải làm gì để đăng ký nhận con. Cảm ơn luật sư.
Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Trường hợp của bạn pháp luật quy định như sau
Theo điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28 tháng 5 năm 2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật của hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, quy định như sau:
Điều 5: Trách nhiệm, hệ quả của việc cam đoan không đúng sự thật
1. Trường hợp cho phép người yêu cầu đăng ký hộ tịch lập văn bản cam đoan về nội dung yêu cầu đăng ký hộ tịch thì cơ quan đăng ký hộ tịch phải giải thích rõ cho người lập văn bản cam đoan về trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật.
2. Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan không đúng sự thật.
Điều 14: Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con
Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 điều 25 và khoản 1 điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:
1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
2. Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.
4. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ
Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ như sau:1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
5. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu
Câu hỏi : Chào luật sư, tôi và chồng kết hôn với nhau được hơn 10 năm và có 01 con trai và 01 con gái. Hai vợ chồng có ngôi nhà và diện tích đất 500m2. Thời gian gần đây chồng tôi làm ăn thua lỗ, nên nợ một số tiền lớn.Chồng tôi đã thực hiện chia tài sản chung với tôi vì không muốn liên lụy đến tôi và các con. Hiện tại bên chủ nợ đang cho rằng việc chia tài sản chung của chồng nhằm để trốn việc trả nợ ( trong khi đó tôi không hề biết gì về khoản nợ này) . Vậy luật sư cho tôi hỏi việc chia tài sản chung của vợ chồng tôi có bị vô hiệu không?
Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Trường hợp của bạn chúng tôi đã nghiên cứu và phân tích như sau
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trân trọng./.