1. Khởi kiện hành chính (hay khiếu kiện hành chính) là gì?
Khởi kiện vụ án hành chính là việc cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính yêu cầu toà án giải quyết vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc.
2. Chủ thể khởi kiện vụ án hành chính
Căn cứ khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định:
Điều 3. Giải thích từ ngữ
8. Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri).
Việc xác định chủ thể khởi kiện là cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính thì phải xem xét cá nhân, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện hay không.
Năng lực tố tụng hành chính: Là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính do pháp luật quy định. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng hành chính như nhau trong việc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngoài ra, năng lực tố tụng hành chính còn à khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.
Như vậy, việc khởi kiện vụ án hành chính chỉ có thể được thực hiện bởi người có quyền khởi kiện vụ án hành chính hoặc người đại diện của người có thẩm quyền khởi kiện vụ án hành chính với điều kiện người đó đảm bảo năng lực hành vi tố tụng hành chính
Người đại diện của người có quyền khởi kiện vụ án hành chính:
Dựa vào ý chí của đương sự có thể phân chia người đại diện của đương sự thành 2 loại:
- Người đại diện theo pháp luật: Là người đại diện tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định của pháp luật. Tư cách đại diện trong trường hợp nà không phụ thuộc vào ý chí của đương sự mà phải tuân theo các quy định của pháp luật. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng hành chính có thể là những người sau đây:
* Đối với đương sự là cá nhân:
- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
- Người giám hộ đối với người được giám hộ
- Người được Toà án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
* Đối với đương sự là tổ chức, người đại diện theo pháp luật gồm:
- Người đứng đầu cow quan, tổ chức do được bổ nhiệm hoặc bầu theo quy định của pháp luật;
- Những người khác theo quy định của pháp luật
- Người đại diện theo uỷ quyền: Là người đại diện tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo uỷ quyền của đương sự. Khác với người đại diện theo pháp luật, tư cách đại diện của người đại diện theo uỷ quyền chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở ý chí của đương sự và được biểu hiện cụ thể thông qua văn bản uỷ quyền. Người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng hành chính phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, được đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự uỷ quyền bằng văn bản.
3. Điều kiện về phương thức khởi kiện
Phương thức khởi kiện có thể hiểu là việc các chủ thể có quyền lựa chọn các cách thức khác nhau để khởi kiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc thì theo Điều 115, cá nhân, tổ chức được lựa chọn 1 trong 3 cách sau:
- Khởi kiện ngay khi nhận được Quyết định hành chính hoặc Hành vi hành chính bị xâm hại
- Khởi kiện khi nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần 1 mà không đồng ý hoặc hết thời gian giải quyết khiếu nại lần 1 mà không được giải quyết
- Khởi kiện khi nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 mà không đồng ý hoặc hết tời gian giải quyết khiếu nại lần 2 mà không được giải quyết
Đối với tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì theo khoản 2 Điều 115 thì cá nhân, tổ chức chỉ có quyền khởi kiện quyết định này mà không có quyền khiếu nại.
4. Điều kiện về hình thức, thủ tục khởi kiện
Việc khởi kiện phải được thực hiện bằng văn bản. Khi khởi kiện vụ án hành chính thì cơ quan, tổ chức, cá nhân phải làm đơn khởi kiện có nội dung theo quy định tại Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính 2015.
Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng hành chính có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của cá nhân, ở phần cuối đơn cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ.
Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm đơn khởi kiện. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi rõ tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải kí tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.
5. Điều kiện về thời hiện khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính được quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính 2015. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
• Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
- 01 năm kể từ ngày nhận được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc
- 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.
Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được theo các thời hạn quy định trên đây thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.
- Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời gian giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.
• Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:
- 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;
- 01 năm kể từ ngày hết hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.
Như vậy, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính có thể khác nhau.
Trên đây là toàn bộ nội dung của bài viết "Khi nào có thể khởi kiện vụ án hành chính ?". Nếu có bất kỳ vướng mắc xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được hỗ trợ. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn !