1. Cơ sở pháp lý

- Luật phòng chống tham nhũng 2019

2. Nội dung tư vấn

2.1 Có phải là định kỳ công chức phải chuyển đổi vị trí công tác 2-5 năm/lần không?

Theo quy định tại Điều 25 Luật Phòng, chống tham nhũng mới có hiệu lực từ 01/7/2019, người có chức vụ, quyền hạn phải chuyển đổi vị trí công tác khi làm việc tại một số vị trí liên quan đến:
- Công tác tổ chức cán bộ;
- Quản lý tài chính công, tài sản công đầu tư công;
- Tiếp xúc trực tiếp và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác;
Không chỉ vậy, những người không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và viên chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng phải chuyển đổi vị trí công tác nhằm phòng ngừa tham nhũng (Điều 24 Luật Phòng chống tham nhũng).
Do đó, có thể thấy, không chỉ riêng người có chức vụ, quyền hạn làm việc tại một số vị trí như trên mà kể cả những người không giữ chức vụ, quản lý, lãnh đạo cũng phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác nhằm phòng ngừa tham nhũng.

>> Xem thêm:  Tư vấn khởi kiện công ty nợ tiền trợ cấp thôi việc của người lao động ?

Trong đó, khoản 2 Điều 25 Luật này nêu rõ:
Thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác là từ đủ 02 năm - 05 năm theo đặc thù của từng ngành, lĩnh vực
Theo quy định này, tùy vào từng ngành, lĩnh vực khác nhau mà thời hạn chuyển đổi sẽ khác nhau nhưng không thấp hơn 02 năm và tối đa không quá 05 năm.
Đặc biệt, thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sẽ do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quy định. (khoản 1 Điều 36 Nghị định 59/2019/NĐ-CP).
Đồng thời, việc chuyển đổi này phải bảo đảm khách quan, hợp lý, phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ và không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức đơn vị.
Không chỉ vậy còn không được lợi dụng việc chuyển đổi vị trí công tác vì vụ lợi hoặc để trù dập cán bộ, công chức, viên chức mà phải được thực hiện theo kế hoạch cũng như phải công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Như vậy, theo quy định trên, công chức ở một số vị trí nhất định phải định kỳ chuyển đổi công tác thời hạn từ 2 - 5 năm để phòng, chống tham nhũng.
chưa phải chuyển đổi vị trí công tác

2.2 Khi nào công chức chưa phải chuyển đổi vị trí công tác?

Mặc dù việc thực hiện chuyển đổi vị trí công tác là một trong những biện pháp có hiệu quả trong việc phòng chống tham nhũng nhưng không phải trường hợp nào cũng phải chuyển đổi.
Theo đó, tùy vào từng ngành, lĩnh vực nêu tại phụ lục Nghị định 59 mà thực hiện chuyển đổi vị trí công tác từ bộ phận này sang bộ phận khác; giữa các lĩnh vực, địa bàn được phân công, theo dõi, phụ trách, quản lý…
Điều 38 Nghị định 59 liệt kê một số trường hợp chưa thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác, gồm:
- Người đang trong thời gian bị xem xét, xử lý kỷ luật; Người đang bị kiểm tra, xác minh, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử;
- Người đang điều trị bệnh hiểm nghèo (có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền);
- Người đang đi học tập trung từ 12 tháng trở lên;
- Người đang biệt phái;
- Phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; Nam giới đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi do vợ mất hoặc trong trường hợp khách quan khác.
Đặc biệt, người có thời gian công tác còn lại dưới 18 tháng cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu sẽ không phải chuyển đổi vị trí công tác.
Như vậy, sẽ chỉ có 05 trường hợp nêu trên chưa phải chuyển đổi vị trí công tác và chỉ có duy nhất một trường hợp không phải chuyển đổi vị trí công tác.

2.3 Đảng viên bị khai trừ ngay nếu đánh bạc có phải không?

Theo điểm a Khoản 2 Điều 31 Quy định 102-QĐ/TW năm 2017, Đảng viên tham gia đánh bạc thì bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức nếu có chức vụ.
Nếu Đảng viên là chủ mưu, khởi xướng, tổ chức đánh bạc dưới mọi hình thức hoặc đã bị xử lý về hành vi đánh bạc nhưng tiếp tục tái phạm thì có thể bị khai trừ khỏi Đảng.
Ngoài ra, Điều 2 Hướng dẫn số 04-HD/UBKTTW cũng quy định:
Đảng viên vi phạm bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ) thì tổ chức Đảng có thẩm quyền căn cứ vào quy định nêu trên để xem xét, quyết định cụ thể: Cảnh cáo hoặc cách chức một, một số hoặc tất cả các chức vụ trong Đảng đối với Đảng viên đó
Đảng viên vi phạm bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo, nếu xét thấy không còn đủ uy tín thì tổ chức Đảng có thẩm quyền quyết định cho miễn nhiệm hoặc đề nghị cho thôi giữ chức vụ đó
Căn cứ các quy định trên, Đảng viên đánh bạc lần đầu thì có thể bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức hoặc miễn nhiệm, thôi giữ chức vụ nếu có chức vụ; tái phạm thì tùy vào mức độ, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng… mà có có thể khai trừ khỏi Đảng.

2.4 Đảng viên đánh bạc bị xử lý thế nào?

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Phân tích tội đánh bạc theo Bộ luật hình sự
Thứ nhất: Các yếu tố cấu thành tội đánh bạc.
Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:
Có sự thỏa thuận được thua bằng tiền hay bằng hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng.
Trường hợp tiền hay hiện vật có giá trị dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Về tiền và hiện vật xác định đưa vào đánh bạc gồm:
– Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc.
– Tiền hoặc hiện vật thu được trong người các con bạc mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc.
– Tiền hoặc hiện vật thu giữ những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc.
Cần chú ý: Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc củạ tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét cụ thể như sau:
+ Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về một trong các tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích mà vần còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;
+ Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của lần đánh bạc nào đó bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;
+ Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự;
– Khi truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi đánh bạc dưối hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… cần phân biệt:
+ Một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa… (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa…trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đốì với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đề chơi trong các đợt đó.
+ Số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa…với nhiều người là tổng sô’ tiền, giá trị hiện hiện vật mà họ và những người chơi khác dùng để đánh bạc.
Khách thể:
Hành vi phạm tội xâm phạm đến trật tự công cộng.
Mặt chủ quan:
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
Chủ thể:
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Cần lưu ý: Việc tham gia hoặc thực hiện đánh bạc bao giờ cũng phải là có nhiều người (có hai người trở lên) cùng thực hiện.
Thứ hai: về hình phạt.
Mức hình phạt của tội phạm này được chia làm hai khung, cụ thể như sau:
– Khung một (khoản 1)
Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Khung hai (khoản 2)
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
+ Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
+ Tái phạm nguy hiểm.
– Hình phạt bổ sung (khoản 3)
Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính như nêu trên, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Đánh bạc, Đảng viên có thể phải đi tù đến 7 năm
Theo khoản 5, khoản 6 Điều 2 Quy định 102 nêu trên, Đảng viên bị kỷ luật theo nguyên tắc sau đây:
- Nếu Đảng viên vi phạm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự, không xử lý nội bộ;
- Nếu Đảng viên bị Tòa án tuyên phạt tù từ cải tạo không giam giữ trở lên thì phải khai trừ;
- Nếu Đảng viên bị xử phạt bằng hình phạt thấp hơn cải tạo không giam giữ hoặc được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị xử phạt hành chính thì tùy nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, nguyên nhân vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà xem xét, thi hành kỷ luật Đảng thích hợp.
Đặc biệt: Kỷ luật Đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử lý của pháp luật.
Do đó, bên cạnh việc kỷ luật Đảng, Đảng viên còn có thể bị xử phạt hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự.
Phạt tiền đến 02 triệu đồng
Theo khoản 2 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, đánh bạc sẽ bị phạt tiền từ 01 - 02 triệu đồng nếu:
- Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;
- Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;
- Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;
- Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.
Ngồi tù đến 07 năm tù
Ngoài bị xử phạt hành chính, nếu nghiêm trọng hơn, người đánh bạc có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 120 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017:
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng - 03 năm: Đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào thua bằng tiền/hiện vật trị giá từ 05 - dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 05 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm…
- Phạt tù từ 03 - 07 năm: Nếu thuộc một trong các hành vi sau đây: Có tính chất chuyên nghiệp; tiền/hiện vật dùng để đánh bạc trị giá 50 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm; sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội.
Nói tóm lại, Đảng viên đánh bạc tùy vào tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ… có thể bị xử phạt hành chính, chịu trách nhiệm hình sự và bị kỷ luật cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ) hoặc thậm chí bị khai trừ khỏi Đảng.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê