1. Quy định về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kĩ năng nghề đối với người lao động
Theo quy định của BLLĐ năm 2012, quan hệ học nghề giữa người lao động và người sử dụng lao động được thiết lập chủ yếu dưới các hình thức sau đây:
- Người sử dụng lao động tuyển người vào đào tạo nghề để làm việc
Theo quy định tại Điều 61 Bộ luật lao động năm 2019, người sử dụng lao động được tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình. Hình thức đào tạo nghề này không chỉ có ý nghĩa huy động người sử dụng lao động tham gia vào hoạt động dạy nghề và giải quyết các vấn đề xã hội liên quan mà còn mang lại hiệu quả cao trong sử dụng lao động tại đơn vị. Theo đó, doanh nghiệp có được nguồn lao động chất lượng và hơn hết người lao động sau đào tạo tìm được việc làm và thu nhập ổn định. Do người sử dụng lao động dạy cho người lao động các kĩ năng làm việc cần thiết, môi trường đào tạo cũng mang tính thực tế ngay tại nơi làm việc nên đa phần N người lao động có thể đạt kĩ năng nghề thành thạo sau khóa học và có thể tham gia ngay vào quá trình sản xuất. Việc được doanh nghiệp tuyển dụng ngay sau đào tạo cũng khiến cho người học phấn khởi, yên tâm học tập và làm việc.
Hiện nay, việc tuyển người vào sau đó đào tạo nghề để sử dụng hoàn toàn do người sử dụng lao động quyết định, căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nhu cầu phát triển ngành nghề... của đơn vị. Do mục tiêu đào tạo là để sử dụng nên người sử dụng lao động không phải đăng kí hoạt động dạy nghề. Tuy nhiên người sử dụng lao động cũng không được thu học phí của người học nghề như các trường hợp đào tạo để người học nghề tìm kiếm việc làm. Điều kiện để tuyển người vào học nghề trong trường hợp này là người học nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khoẻ, phù hợp với yêu cầu của nghề, trừ một số nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Đồng thời, hai bên phải kí hợp đồng đào tạo nghề theo quy định của pháp luật.
Trong thời gian học nghề, nếu người học nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách thì được người sử dụng lao động trả lương. Mức lương do hai bên thoả thuận trong hợp đồng đào tạo nghề, phụ thuộc vào mức độ làm lợi của người lao động cho người sử dụng lao động, pháp luật không khống chế mức tối thiểu.
Het thời hạn học nghề, hai bên phải kí kết hợp đồng lao động khi đủ các điều kiện. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là trong mọi trường hợp người sử dụng lao động đều bắt buộc phải kí kết hợp đồng lao động với người lao động sau khi học xong. Lí do là bởi việc không thiết lập được quan hệ lao động cũng gây ra khoản thiệt hại về chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động. Việc doanh nghiệp không kí hợp đồng lao động với người học cũng có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như người học nghề không đạt yêu cầu của nghề theo học, doanh nghiệp không còn nhu cầu sử dụng lao động, doanh nghiệp gặp khó khăn không giải quyết được việc làm cho người học... Vì vậy, nếu bắt buộc người sử dụng lao động phải kí kết hợp đồng lao động hay phải bồi thường cho người lao động là không phù hợp.
Ngoài ra, người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo điều kiện để người lao động tham gia đánh giá lã năng nghề để được cấp chứng chỉ kĩ năng nghề quốc gia, đặc biệt trong trường hợp có thuê mướn, sử dụng lao động theo họp đồng làm những công việc thuộc danh mục công việc ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn, sức khoẻ của cá nhân người lao động và cộng đồng theo quy định của Luật Việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn.
- Người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kĩ năng nghề cho người lao động trong quả trình thực hiện hợp đồng lao động
Trong nền kinh tế thị trường, việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kĩ năng nghề cho người lao động là một yêu cầu vừa có tính cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài. Sự phát triển ngày càng sâu rộng với tốc độ cao của khoa học công nghệ cùng với vị trí ngày càng to lớn của nó trong đời sống xã hội đã đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo và bồi dưỡng lao động. Nó làm cho tính chất và nội dung của lao động thay đổi hàng ngày, hàng giờ, làm cho nghề nghiệp của N người lao động ngày càng được mở rộng. Quá trình phát triển của khoa học kĩ thuật công nghệ đòi hỏi các kiến thức của con người phải ngày càng hoàn thiện.
Việc đào tạo, nâng cao trình độ, kĩ năng nghề cho người lao động có mục đích tạo điều kiện cho người lao động vừa làm việc, vừa học nghề, giúp người lao động mở rộng kiến thức, kĩ năng nghề, nâng cao hiệu quả công việc, trên cơ sở đó đáp ứng được nhu cầu sử dụng nhân lực và đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh của đơn vị sử dụng lao động. Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi mà yêu cầu hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế đang ngày càng bức thiết. Doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững bắt buộc phải quan tâm đến chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, hoạt động này còn có ý nghĩa gắn kết mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, đảm bảo cho sự gắn bó lâu dài và tận tâm của người lao động đối với đơn vị.
Có nhiều hình thức khác nhau để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kĩ năng nghề cho người lao động. Người sử dụng lao động có thể đào tạo tại chỗ hoặc cử người lao động tham gia các khoá đào tạo tại các trường, các trung tâm, ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.
Hiện nay, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kĩ năng nghề cho người lao động không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của người sử dụng lao động. Điều 60 BLLĐ năm 2019 quy định, người sử dụng lao động xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kĩ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình. Đồng thời, trong báo cáo hàng năm về lao động, người sử dụng lao động phải báo cáo kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kĩ năng nghề cho sở lao động-thương binh và xã hội.
2. Hoàn trả phí đào tạo nghề khi nào ?
Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kĩ năng nghề cho người lao động ở trong nước hay nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng được thực hiện dưới hình thức họp đồng đào tạo nghề. Trong đó, các bên cam kết với nhau về quyền và nghĩa vụ của mình đối với bên kia trong quan hệ đào tạo nghề.
Bởi vậy, hợp đồng đào tạo nghề là thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kĩ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.
So với các quan hệ học nghề thông thường được thiết lập giữa cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp và người học, quan hệ học nghề giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng đào tạo nghề có nhiều điểm khác biệt. Theo đó, người lao động là người học nhưng không phải trả học phí mà được người sử dụng lao động chi trả. Không chỉ vậy, bên cạnh học phí, người sử dụng lao động cũng có thể hỗ trợ thêm cho người lao động các khoản khác như chi phí đi lại, sinh hoạt, tiền lương và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động mặc dù người lao động không thực hiện nghĩa vụ lao động trong thời gian đi học. Người lao động học nghề tại đơn vị sử dụng lao động có tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách cũng được trả lương theo quy định của pháp luật. Mục đích của quan hệ học nghề giữa người lao động với người sử dụng lao động cũng rất cụ thể, đó là để người lao động đạt được các kiến thức, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp để làm việc cho người sử dụng lao động chứ không chỉ là các bằng cấp, chứng chỉ để người học tự làm việc hoặc để tham gia vào thị trường lao động như quan hệ học nghề thông thường. Chính vì vậy, sau khi học xong, người lao động thường phải làm việc cho người sử dụng lao động một thời gian nhất định theo cam kết trong hợp đồng đào tạo nghề.
Việc giao kết hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 2 bản, mỗi bên giữ 1 bản. Với hình thức này, các thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động được thể hiện rõ ràng, tạo ra cơ sở pháp lí chặt chẽ để ràng buộc các bên trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thoả thuận, đặc biệt là vấn đề chi phí đào tạo và trách nhiệm của người lao động sau khi học nghề xong.
Nội dung của hợp đồng đào tạo nghề phải bao gồm các điều khoản chủ yếu sau: nghề đào tạo; địa điểm đào tạo, thời gian và tiền lương trong thời gian đào tạo;; thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo; chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo; trách nhiệm của người sử dụng lao động. Ngoài ra, các bên có thể thoả thuận thêm các nội dung khác nhung không được trái quy định của pháp luật.
Có thể thấy mục đích của việc người lao động học nghề tại đơn vị sử dụng lao động là để làm việc cho người sử dụng lao động. Vì vậy, người lao động phải cam kết làm việc một khoảng thời gian nhất định sau khi học xong như là điều kiện để người sử dụng lao động trả chi phí đào tạo cho người lao động. Khi vi phạm cam kết này, người lao động phải thực hiện trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động. Trách nhiệm hoàn trả phát sinh trong các trường hợp sau: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đào tạo nghề trước thời hạn, người lao động không làm việc cho người sử dụng lao động sau khi học xong hoặc có làm việc nhưng không đủ thời gian đã cam kết trong hợp đồng đào tạo nghề. Với những trường hợp này, việc chấm dứt quan hệ học nghề hoặc quan hệ lao động xuất phát từ ý chí đơn phương của người lao động khiến cho mục đích của hoạt động đào tạo nghề không đạt được, người sử dụng lao động bị thiệt hại. Như vậy, nếu như hợp đồng đào tạo nghề hoặc hợp đồng lao động chấm dứt do người sử dụng lao động, do hai bên thoả thuận hoặc do nguyên nhân khách quan thì người lao động không phải bồi thường chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động.
Mức hoàn trả chi phí đào tạo được xác định căn cứ vào chi phí đào tạo. Theo đó, chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành và các chi phí khác hỗ trợ cho người học, tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học (theo Điều 62 BLLĐ năm 2019). Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài cũng được coi là khoản chi phí hỗ trợ nằm trong chi phí đào tạo.
3. NLĐ phải hoàn trả chi phí đào tạo nghề cho NSDLĐ
Theo quy định của Bộ Luật Lao động 2019 (BLLĐ 2019) người lao động được tự do lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực cũng như nhu cầu của bản thân. Nhưng khi đã làm việc cho một người sử dụng lao động thì bắt buộc họ phải tuân thủ hợp đồng lao động cũng như nội quy, kỷ luật nơi làm việc.
Như vậy, cơ sở để doanh nghiệp yêu cầu NLĐ bồi thường chi phí đào tạo là cam kết mà các bên đã thỏa thuận về các trường hợp bồi thường chi phí đào tạo trong hợp đồng đào tạo mà hai bên ký kết.Theo đó:
+ Nếu trong hợp đồng đào tạo hai bên thỏa thuận thực hiện theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 (tức trong mọi trường hợp chấm dứt HĐLĐ đều phải bồi thường chi phí đào tạo), thì NLĐ sẽ phải bồi thường chi phí đào tạo theo cam kết mặc dù chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật;
+ Nếu hợp đồng đào tạo hai bên thỏa thuận thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động thì trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước hạn đúng pháp luật thì không phải bồi thường.
Thực tế, có nhiều trường hợp hai bên không thỏa thuận thực hiện theo quy định pháp luật nào dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau khi giải quyết tranh chấp; theo quan điểm của tác giả thì doanh nghiệp không thể buộc NLĐ phải “cam kết” với nội dung “không phù hợp” quy định của BLLĐ, khi bản chất của việc “học nghể” là một hình thức lao động của NLĐ có nghĩa vụ thực hiện cho doanh nghiệp và BLLĐ là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vực điều chỉnh quan hệ lao động, nghĩa là kể cả trường hợp hai bên thỏa thuận thực hiện theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 hoặc hai bên không thỏa thuận thực hiện theo quy định pháp luật nào thì NLĐ đều không phải bồi thường chi phí đào tạo nếu đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật. Do đó, để tránh xảy ra tranh chấp trong quan hệ lao động, doanh nghiệp và NLĐ nên thỏa thuận rõ ràng các điều khoản khi ký kết hợp đồng đào tạo.
4. Có được phạt vi phạm gấp nhiều lần chi phí đào tạo?
Bên cạnh việc hoàn trả chi phí đào tạo, người lao động có thể còn phải bồi thường thêm khoản tiền do vi phạm hợp đồng nếu trước đó các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm. Các bên khi ký hợp đồng đào tạp nghề thường thỏa thuận người lao động sau khi được đào tạo phải cam kết làm việc cho người sử dụng lao động trong thời gian nhất định, nếu vi phạm sẽ phải bồi thường gấp đôi, gấp ba, thậm chí gấp nhiều lần chi phí đào tạo nghề.
Việc yêu cầu bồi thường do vi phạm dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng cho phép các bên tự do thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng. Vậy doanh nghiệp được yêu cầu bồi thường tối đa là bao nhiêu?
Theo Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 không đặt ra mức tối đa đối với phạt vi phạm mà sẽ do các bên tự thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Trong khi đó, Bộ luật Lao động cũng không có quy định nào về vấn đề này. Vì vậy, việc áp dụng mức nào sẽ do sự thỏa thuận của các bên.
Như vậy, doanh nghiệp có thể thỏa thuận với người lao động về việc phạt vi phạm hợp đồng đào tạo nghề gấp nhiều lần chi phí đào tạo cũng không trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu có tranh chấp tại Tòa án, với sự xem xét, cân bằng lợi ích giữa các bên thì mức phạt vi phạm được Tòa án áp dụng có thể thấp hơn so với mức các bên thỏa thuận trước đó.
5. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp
BLLĐ năm 2019 không đặt ra trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 61 Luật Giáo dục và nghề nghiệp 2014 lại quy định:
Người tốt nghiệp các khoá đào tạo do người sử dụng lao động cấp học bổng, chi phí đào tạo phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo; trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo.
Theo đó, người lao động vẫn có trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động nếu không làm việc theo đúng thời gian đã cam kết.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực pháp luật lao động về bồi hoàn chi phí đào tạo, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật MInh Khuê