Căn cứ vào khoản 3 Điều 101 Bộ luật Lao động năm 2019, khi nghĩ hằng năm (thực tế mọi ngườithường gọi là nghỉ phép năm), người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Như vậy, với quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có tiền chi tiêu trong những dịp nghỉ hằng năm mà chưa tới kỳ nhận tiền lương.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn quy định pháp luật hiện nay về vấn dề trên như sau:
Quy định về số ngày nghỉ phép năm hay nghỉ hàng năm là chế độ dành riêng cho người lao động, được quy định cụ thể tại Bộ Luật lao động năm 2019. Theo đó, người lao động được đảm bảo lợi ích về số ngày nghỉ của mình khi làm việc tại doanh nghiệp mà vân được hưởng lương theo quy định.
1. Nghỉ phép năm là gì?
- Ngày nghỉ theo khái niệm đời sống thông thường được hiểu là những ngày không phải làm việc, là ngày được nghỉ ngơi sau những ngày phải làm việc. Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì người lao động luôn có ngày nghỉ, tùy thuộc vào tình hình kinh tế xã hội cũng như các chế độ chính sách pháp luật của mỗi nước mà số ngày nghỉ và các loại ngày nghỉ được quy định khác nhau. Nhưng nhìn chung mục đích của những ngày nghỉ là nhằm để đáp ứng yêu cầu tối thiểu của người lao động về nghỉ ngơi cũng như có những ngày nghỉ lễ truyền thống của mỗi nước, là ngày mà cả nước cùng nhau tôn vinh những ngày lễ. Dù là ở nước nào thì ngày nghỉ luôn là ngày cần thiết cho người lao động.
- Còn ở nước ta, ngày nghỉ theo quy định của pháp luật, cụ thể là theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 thì ngày nghỉ được hiểu là ngày mà người lao động không phải thực hiện nghĩa vụ lao động theo hợp đồng lao động và theo Bộ luật lao động. Có nhiều loại ngày nghỉ trong luật, có những ngày nghỉ có lương và có những ngày nghỉ không có lương. Dù là ngày nghỉ có lương hay không có lương thì những ngày nghỉ này đều là quyền lợi của người lao động mà người sử dụng lao động bắt buộc phải đáp ứng cho người lao động. Trường hợp trong những ngày nghỉ mà người lao động vẫn đi làm thì người lao động phải được hưởng lương tăng ca (đối với ngày nghỉ không hưởng lương), được hưởng đồng thời lương của ngày nghỉ và lương của ngày làm việc (đối với ngày nghỉ có hưởng lương).
- Bộ luật lao động năm 2019 quy định về ngày nghỉ có những ngày sau:
+ Nghỉ hằng tuần;
+ Nghỉ lễ, tết;
+ Nghỉ hằng năm.
Vào những ngày nghỉ này, người lao động hoàn toàn có quyền được nghỉ để đảm bảo quyền lợi của mình, ngày nghỉ không lương hay ngày nghỉ có lương đều là quyền lợi hợp pháp. Trường hợp người lao động không được hưởng các quyền lợi này thì có thể khiếu nại người sử dụng lao động.
Nghỉ phép năm là một quyền lợi của người lao động có đủ 1 năm làm việc cho người sử dụng lao động và được hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động.
Số ngày nghỉ phép trong năm là khoảng thời gian lao động được quyền nghỉ ngơi (không tính ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ lễ hoặc nghỉ không hưởng lương và nghỉ việc riêng).
2. Quy định nghỉ phép năm
Căn cứ theo Bộ luật lao động năm 2019 ban hành ngày 20/11/2019 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2021, thay thế cho Bộ luật lao động năm 2012 có quy định về ngày nghỉ phép năm như sau:
2.1 Quy định về số ngày nghỉ phép năm
Căn cứ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 113 bộ luật lao động năm 2019 quy định về người lao động được nghỉ hàng năm theo quy định:
Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được hưởng nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng như sau:
+ Được nghỉ 12 ngày làm việc đối với người làm việc trong điều kiện bình thường;
+ Được nghỉ 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
+ Được nghỉ 16 ngày làm việc đối vời người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Số ngày nghỉ hằng năm đối với người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.
Ngoài quy định về số ngày nghỉ phép năm khi còn làm việc thì tại Khoản 3 Điều 113 còn quy định các trường hợp nghỉ phép năm trong một số trường hợp cụ thể:
1. Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
2. Khi nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, người lao động được tạm ứng tiền lương theo quy định
3. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở lên đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.
2.2 Gộp số ngày nghỉ phép hằng năm
Quy định tại khoản 4 Điều 113, Bộ luật lao động 2019 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động được biết. Trong đó,
+ Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp.
+ Thời gian nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
2.3 Không nghỉ hết phép năm
Trường hợp lao động không nghỉ hết số ngày nghỉ phép năm theo quy định sẽ được xử lý như sau:
- Trường hợp người lao động không nghỉ hết số ngày phép do thôi việc hoặc bị mất việc làm thì người lao động sẽ được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày được nghỉ phép chưa nghỉ.
- Trường hợp không nghỉ hết ngày nghỉ phép trong năm do không có nhu cầu nghỉ mà vẫn tiếp tục đi làm thì người sử dụng lao động không phải thanh toán tiền lương cho những ngày nghỉ phép chưa nghỉ.
Như vậy, người lao động không nghỉ hết phép năm do không có nhu cầu nghỉ sẽ không được thanh toán bằng tiền theo số ngày nghỉ còn thừa khi kết thúc năm. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay cũng cho phép người lao động được thỏa thuận với doanh nghiệp để gộp ngày nghỉ phép còn dư sang các năm tiếp theo.
3. Cách tính số ngày nghỉ hằng năm
Cách tính ngày nghỉ phép có một số trường hợp đặc biệt. Căn cứ theo Điều 66, nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động 2019, cách tính như sau:
- Số ngày nghỉ hằng năm của người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng được tính như sau: Lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm.
Công thức tính số ngày phép năm như sau:
Số ngày phép = [( Số ngày nghỉ phép khi làm đủ năm + số ngày phép thâm niên (nếu có)))/12] x số tháng làm việc thực tế
- Trường hợp người lao động làm việc chưa đủ tháng, nếu tổng số ngày làm việc và ngày nghỉ có hưởng lương của người lao động (nghỉ lễ, tết, nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng có hưởng lương theo Điều 112, điều 113, điều 114 và điều 115 của Bộ luật lao động) chiếm tỷ lệ từ 50% số ngày làm việc bình thường trong tháng theo thỏa thuận thì tháng đó được tính là 01 tháng làm việc để tính nghỉ hằng năm.
- Toàn bộ thời gian người lao động làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực nhà nước và doanh nghiệp nhà nước được tính là thời gian làm việc để tính ngày nghỉ hằng năm thêm theo quy định tại Điều 144 của Bộ luật lao động nếu người lao động tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.
4. Số ngày nghỉ phép năm theo thâm niên
Đối với người lao động nghỉ phép hằng năm sẽ tăng theo thâm niên. Cụ thể theo tại Điều 114, Bộ luật lao động năm 2019 quy định:
+ Ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc.
+ Người lao động cứ đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động được tăng thêm tương ứng 01 ngày.
Ví dụ: Người lao động làm việc từ đủ 12 tháng, làm công việc trong điều kiện bình thường được nghỉ phép trong năm là 12 ngày làm việc. Khi có đủ từ 5 năm làm việc cho 1 người lao động trở lên thì số ngày nghỉ phép năm tăng lên 12 ngày.
Tương tự ngày nghỉ phép năm tăng lên 15 ngày đối với công việc nặng nhọc, độc hại hoặc người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật; tăng lên 17 ngày đối với người làm việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Như vậy, từ những căn cứ ở trên, theo khoản 3 Điều 101 Bộ luật Lao động năm 2019, khi nghỉ hằng năm (thực tế mọi người thường gọi là nghỉ phép năm), người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ. Với quy định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có tiền chi tiêu trong những dịp nghỉ hằng năm mà chưa tới kỳ nhận tiền lương.
Trên đây là toàn bộ bài viết mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc tham khảo. Nếu có thắc mắc vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến hotline 1900.6162 để được chuyên viên pháp luật tư vấn trực tiếp. Xin chân thành cảm ơn!