Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, tôi muốn Luật sư phân tích rõ hơn cho tôi về quy định của pháp luật hiện hành có các loại việc khiếu kiện hành chính nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân?

Cảm ơn!

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý

Pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam, từ khi ra đời cho đến nay, thẩm quyền theo loại việc được quy định bằng phương pháp liệt kê kết hợp với phương pháp viện dẫn. Theo phương pháp này, trước hết Pháp lệnh hệt kê một danh sách các loại việc quản lý hành chính mà khi bị khiếu kiện thì Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết; sau đó quy định viện dẫn ghi nhận thẩm quyền của Tòa án đối với những khiếu kiện khác khi mà pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đó ghi nhận dù loại việc đó không/chưa được nêu trong Pháp lệnh. Qua hai lần sửa đổi bổ sung Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính, phạm vi các loại việc quản lý thuôc thẩm quyền xét xử của Toà án đều được mở rộng. Hiện tại, phạm vi này được xác định tại điều 30 của Luật tố tụng hành chính năm 2015.

"Điều 30. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:

a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;

b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;

c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.

2. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

3. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

4. Khiếu kiện danh sách cử tri."

Theo điều luật trên chúng ts sẽ cùng nhau tìm hiểu về các trường hợp khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án ở những mục dới đây.

2. Khiếu kiện quyết định hành chính

Khái niệm “quyết định hành chính” được Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định (định nghĩa) như sau tại khoản 1 Điều 3 “Giải thích từ ngữ”: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Ta rút ra quyết định hành chính có các đặc điểm sau:

- Quyết định hành chính là quyết định cá biệt. Đặc điểm nàythể hiện bằng các ý như: Quyết định về một vấn đề cụ thể, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Tuy nhiên, nếu thể hiện đặc điểm này theo chức năng pháp lý của quyết định cá biệt bằng công thức “đặt ra, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ cụ thể/hay các quan hệ pháp luật cụ thể” thì pháp lý hơn.

- Hình thức thể hiện của Quyết định hành chính là văn bản. Đặc điểm này thể hiện ở mệnh đề “Quyết định hành chính là văn bản…, quyết định về…”, được hiểu là văn bản chứa một quyết định.
- Chủ thể ban hành quyết định hành chính là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó. Vấn đề lớn ở đây là có thuật ngữ không xác định, không rõ là: “cơ quan, tổ chức khác”. Luật Khiếu nại năm 2011 (Luật Khiếu nại) tại khoản 8 Điều 2 cũng quy định (định nghĩa) khái niệm “quyết định hành chính” nhưng không có cụm từ “cơ quan, tổ chức khác”. Cũng cần nhớ rằng, trong các Pháp lệnh 1996, 1998 và 2006 (khoản 1 Điều 4) quy định (định nghĩa) khái niệm “quyết định hành chính” không có cụm từ này; Pháp lệnh 1998 và 2006 thống nhất quy định chủ thể của quyết định hành chính là các cơ quan hành chính nhà nước, riêng Pháp lệnh 1996 kể tên các cơ quan cụ thể, bên cạnh các cơ quan hành chính nhà nước còn có các cơ quan nhà nước khác.
- Quyết định được ban hành trong hoạt động quản lý hành chính. Phạm vi “hoạt động quản lý hành chính” (hay “hoạt động hành chính”) được giới hạn tại khoản 1 Điều 28 “Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án” của Luật tố tụng hành chính: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức”.Đây là quy định bằng phương pháp loại trừ,một điểm mới rất quan trọng, có sự tiến bộ vượt bậc của Luật tố tụng hành chính so với Pháp lệnh 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006), theo đó phạm vi quyền khởi kiện của công dân, cơ quan, tổ chức được mở rộng ra rất nhiều và đã tiếp cận gần với quy định tương ứng của luật tố tụng hành chính ở các nước phát triển.

3. Khiếu kiện hành vi hành chính

Khái niệm hành vi hành chính được quy định (giải thích) như sau tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015: “hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”.

Về khái niệm hành vi hành chính trên ta rút ra nó có các đặc điểm sau đây:

- Hành vi hành chính là hành động hoặc không hành động (thực hiện hoặc không thực hiện). Như vậy là đúng với khái niệm “hành vi” trong lý luận pháp luật và thực tiễn. Khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh 1996 và Pháp lệnh 2006 đã quy định như vậy, nhưng Pháp lệnh 1998 thì không.
- Chủ thể thực hiện hành vi hành chính là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó. Ở đâycũng có thuật ngữ “cơ quan, tổ chức khác” cần làm rõ như đã xem xét ở trên. Cũng cần lưu ý rằng, Luật Khiếu nại tại khoản 8 Điều 2 giải thích khái niệm hành vi hành chính không có cụm từ “cơ quan, tổ chức khác” và điều này là hợp lý.
- Phạm vi hành vi hành chính là “thực hiện nhiệm vụ, công vụ”. Dùng thuât ngữ “thực hiện nhiệm vụ, công vụ” phải chăng muốn nói cơ quan nhà nước thì thực hiện nhiệm vụ, còn người có thẩm quyền trong cơ quan đó thì thực hiện công vụ. Vậy chắc rằng “cơ quan, tổ chức khác” thì “thực hiện nhiệm vụ”. Nhưng một câu hỏi khác nảy sinh là “nhiệm vụ, công vụ” này có thuộc phạm vi “hoạt động quản lý hành chính” như quyết định hành chính hay không ? Nếu có thì tại sao không chỉ rõ luôn trong quy định trên; nếu không thì gọi là hành vi hành chính có phù hợp không?...

4. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức

Theo khoản 2 điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định về khiếu kiện hành chính nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân về quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống

Loại khiếu kiện này được quy định tại khoản 3 Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015. Tại Khoản 3 Điều 3 “Giải thích từ ngữ” của Luật Tố tụng hành chính quy định (định nghĩa): “Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình”.Quyết định kỷ luật buộc thôi việc thực ra là một loại trừ nằm trong loại trừ ở khoản 1 Điều 30: là quyết định mang tính nội bộ, nhưng do tính đặc thù của nó nên Luật đưa vào diện đối tượng khởi kiện.
Vậy quyết định kỷ luật buộc thôi việc nói ở đây có các đặc điểm sau:
- Là một quyết định cá biệt;
- Hình thức pháp lý (tên gọi) là “quyết định”;
- Hình thức thể hiện là văn bản;
- Chủ thể ban hành quyết định chỉ là người đứng đầu cơ quan, tổ chức;
- Đối tượng áp dụng là công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống thuộc quyền quản lý của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Trước đây, các pháp lệnh chỉ điều chỉnh quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, nay đã mở rộng lên. Trong các pháp lệnh thì riêng Pháp lệnh 1996 không quy định về loại đối tượng “quyết định kỷ luật” hay “quyết định kỷ luật buộc thôi việc”. Như vậy cũng đúng, vì mọi quyết định kỷ luật công chức chỉ là một loại QĐHC xét về mọi dấu hiệu. Nhưng Luật tố tung hành chính quy định riêng khái niệm “quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức” là nhằm giới hạn loại quyết định kỷ luật này được khởi kiện hành chính, khác với Luật Khiếu nại quy định đối tượng khởi kiện là “quyết định kỷ luật” nói chung. Điều này là hợp lý, vì nếu mọi quyết định kỷ luật mà kiện ra Tòa án cả thì Tòa án không thể kham nổi. Mặt khác, đây là loại quyết định gây thiệt hại lớn nhất đến quyền lợi của công chức.

5. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

Loại này được quy định tại khoản 3 điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Theo đó, vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, gồm hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh.
Khi căn cứ Điều 115 và cả mục 7 Chương V của Luật Cạnh tranh, theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP (khoản 3 Điều 1), loại này bao gồm:
- Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh đối với quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh;
- Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương đối với quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Theo thống kê của ngành Toà án, từ khi Pháp lệnh 2006 quy định về loại khiếu kiện này (khoản 16 Điều 11) cho đến nay, có rất ít quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được khởi kiện ra Toà án theo thủ tục tố tụng hành chính. Bên cạnh đó, trong Luật Cạnh tranh còn quy định về nhiều loại quyết định và hành vi đáp ứng đầy đủ các đặc điểm của quyết định hành chính, hành vi hành chính có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích của doanh nghiệp nhưng không được quy định là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, ví dụ: các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước (Điều 6); quyết định kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước... (Điều 15); văn bản trả lời về việc tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm (Điều 23); quyết định việc miễn trừ (Điều 25);...
Như vậy, các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh có thể ra nhiều loại quyết định cá biệt để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Luật Cạnh tranh, nhưng khi khoản 3 Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định chỉ một loại khiếu kiện này, tức là đã giới hạn phạm vi quyền khởi kiện các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về cạnh tranh. Như vậy, quy định này hoá ra lại mâu thuẫn với quy định loại trừ tại khoản 1 Điều 30 đã phân tích trên.

6. Khiếu kiện về danh sách cử tri

Cụ thể ta tìm hiểu về khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Loại khiếu kiện này được quy định tại khoản 4 Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Theo danh sách cử tri, theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội của năm 1997 được sửa đổi, bổ sung vào năm 2010 (Điều 26), Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (năm 2003) quy định tại Điều 24 và điều 27, là do Ủy ban nhân dân cấp xã lập. Khi công dân thấy có sai sót trong danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, sau khi khiếu nại và được giải quyết nhưng không đồng ý có quyền khởi kiện ra TAND cấp huyện. Nói là “khiếu kiện về danh sách cử tri”, nhưng thật ra là “khiếu kiện đối với quyết định lập danh sách cử tri”. Vì vậy, nếu chỉ xét về chủ thể và các dấu hiệu khác thì quyết định này giống một quyết định hành chính. Nhưng đây không phải là quyết định hành chính vì được ban hành để thực hiện hoạt động bầu cử - một hoạt động chính trị đặc biệt, không thuộc phạm vi hoạt động hành chính. Vì vậy, tách ra thành khoản 2 riêng trong Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2015 là chính xác. Do tính chất đặc thù của khiếu kiện này, thủ tục giải quyết được quy định riêng của Luật tố tụng hành chính năm 2015. Cũng có ý kiến rằng, cần trao cho công dân khiếu kiện đối với các hành vi gian lận trong bầu cử, kể cả đối với tư cách các ứng cử viên. Nhưng thiết nghĩ, khái niệm “hành vi gian lận trong bầu cử” rõ ràng hoàn toàn vượt ra ngoài phạm vi hoạt động hành chính và không liên quan đến chủ thể hoạt động hành chính. Vì vậy, nên thuộc dạng tài phán đặc biệt, kể cả thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).