1. Tư tưởng khoan dung tha thứ Đạo Phật

Một lần nọ Đức Phật dạy chư Tăng: “Này các thầy Tỳ-khưu, dù cho có người nào dùng cưa hai lưỡi cưa đứt tay chân con thì con cũng không được để cho tâm bị ô nhiễm mà tức giận người đó. Người nào còn giận dữ khi bị ai cưa tay chân mình thì người đó chưa thực hành đúng theo lời dạy của Như Lai”. Như vậy, dù cho kẻ thù cưa tay chân bạn bằng cái cưa hai lưỡi bạn cũng không nên nóng giận, nếu bạn còn giận dữ  thì bạn cũng chưa thực hành đúng theo lời dạy của Đức Phật. Tôi nghĩ đây là điều thực sự khó thực hành. Bởi vậy, trong Phật giáo sự khoan dung tha thứ, không giận dữ, không sân hận có tầm quan trọng đặc biệt. Không phải chỉ khoan dung tha thứ con người thôi mà lòng khoan dung tha thứ này còn được trãi rộng đến cả các loài thú. Bởi vậy, giới đầu tiên của người Phật tử phải giữ là không sát hại sinh mạng của chúng sinh dù đó là người, súc vật hay những côn trùng bé nhỏ. Như vậy, lòng khoan dung tha thứ hay tình thương của những người Phật tử không phải chỉ giới hạn trong sự thương yêu con người mà thương yêu tất cả chúng sinh.

Tôi hy vọng các bạn đã biết câu chuyện của hoàng đế Asoka, một vị vua Ấn Độ. Trước khi trở thành một Phật tử, vua Asoka là một vị hoàng đế hiếu chiến. Ông đã chinh phạt nhiều quốc gia. Một trong những trận đánh lớn là trận Kalinga, một trận chiến khủng khiếp với hàng trăm ngàn người bị giết. Về sau nhà vua trở thành một Phật tử. Sau khi trở thành người con Phật, thay vì dùng gươm đao để chinh phục, nhà vua dùng Giáo Pháp của Đức Phật để chinh phục các xứ khác. Ông đã để lại nhiều lời dạy về tình thương, khoan dung tha thứ, những lời dạy này đã được khắc trên nhiều trụ đá. Hiện nay vẫn còn tìm thấy nhiều trụ đá ghi khắc những lời dạy về tình thương của vua Asoka rải rác nhiều nơi ở xứ Ấn Độ. Rất nhiều các lời dạy của ông đã được các nhà khảo cổ tìm thấy. Những câu này được ghi bằng một loại văn tự cổ Ấn Độ. Trong một trụ đá đã ghi lại các lời sau: 

“Ta tôn trọng mạng sống của những chúng sinh có hai chân, bốn chân, chim chóc, và những sinh vật dưới nước”. 

Như vậy, những lời dạy của Đức Phật đã chuyển một hoàng đế hiếu sát thành một vị vua nhân từ, không chỉ nhân từ đối với con người mà còn đối với tất cả các sinh vật trên cạn dưới nước.

 

2. Không có Thánh Chiến

Một đặc tính đặc biệt là không có thánh chiến trong lịch sử Phật giáo. Chưa bao giờ có việc nhân danh Phật giáo để tạo ra những cuộc tàn sát nhau. Trong lịch sử thế giới cũng như trong lịch sử các quốc gia, chưa bao giờ có các cuộc chiến tranh gây ra bởi những người Phật tử nhân danh Phật giáo để giết hại tín đồ của các Tôn giáo khác. Đạo Phật luôn luôn dạy chúng ta có tình thương, khoan dung tha thứ. Trong lịch sử, những Phật tử bị sát hại bởi những người nhân danh Tôn giáo khác như Hindu và Hồi giáo, nhưng chưa bao giờ có những cuộc chiến tranh của những người nhân danh Phật giáo đi tiêu diệt các Tôn giáo khác. Trên một trụ đá vua Asoka đã ghi lại: 

“Người nào nhân danh Tôn giáo mình để tiêu diệt hay bức hại những người theo Tôn giáo khác là đã tự đào hố chôn Tôn giáo mình”. 

Một điểm rất quan trọng là không có thánh chiến, không có sự giết hại nhân danh Phật giáo trong lịch sử Phật giáo.

Có rất nhiều yếu tố quan trọng, tốt đẹp khác trong Phật giáo, nhưng tôi nghĩ chúng ta tìm hiểu những yếu tố trên cũng tạm đủ. Tôi nghĩ chúng ta rất may mắn làm một người Phật tử thực hành theo lời dạy của Đức Phật. Và là một Phật tử nên chúng ta được tự do tìm hiểu, được tự do đặt câu hỏi, được tự do giải nghi cho bản thân, được tự do truy tầm tìm kiếm. Là người Phật tử, chúng ta là chủ nhân ông của chính mình, chúng ta là những kiến trúc sư xây dựng tương lai cho chính chúng ta. Chúng ta là những người nương tựa vào chính mình để mang lại an vui hạnh phúc cho bản thân và cho người khác. Những người Phật tử thực hành theo lời dạy của Đức Phật sẽ là những người có trách nhiệm,  là những công dân tốt, cống hiến an bình và hạnh phúc cho xã hội. Những người Phật tử cố gắng, tùy theo năng lực của mình, thực hành những việc thiện lành, tránh xa những việc bất thiện và loại trừ phiền não trong tâm.

Nguồn: Phật pháp căn bản (1) của Silananda do sư Khánh Hỷ soạn dịch