Do những bất minh về mặt pháp lý cũng như cơ chế thực hiện xin các dự án đầu tư mà không ít người đã chi tiền để "chạy" qua các cò trung gian dưới hình tức cung cấp dịch vụ. Vậy, nếu việc làm này không thành thì có căn cứ nào để khởi kiện đòi lại tiền hay không ? Luật Minh Khuê tư vấn cụ thể:

1. NỘI DUNG YÊU CẦU:

Thưa luật sư, Năm 2013, tôi có làm biên bản thỏa thuận với bà Nguyệt thuê làm dịch vụ công từ A đến Z cho 01 dự án với giá: 800 triệu đồng; bao gồm các chi phí hợp lý (bà Nguyệt chi, tôi ký) + bôi trơn, phần thừa sẽ là thù lao bà Nguyệt được hưởng (theo hồ sơ, giấy tờ đính kèm). Tôi chỉ việc ký và chi trả phần bồi thường giải phóng mặt bằng cho dân theo thủ tục bà Nguyệt cung cấp.

Trước khi làm, tôi ứng trước 300 triệu (có biên nhận), sau khi có Giấy phép đầu tư (= 4/10 hạng mục thỏa thuận) bà Nguyệt yêu cầu tôi đưa nốt 500 triệu đồng còn lại mới làm tiếp, tôi chấp thuận và bà Nguyệt làm giấy nhận tiền lần 2. Nhưng khi làm giấy, tôi đọc nội dung cho bà Nguyệt viết là " ...nhận trước 500 triệu để làm tiếp dự án" thì bà Nguyệt đã lợi dụng đèn tối + tôi có hơi men cố tình viết sai nội dung là "Nay đã xong, anh T không còn nợ tôi nữa", phần chủ quan, tin tưởng, phần mệt mỏi, chỉ nhìn chữ ký của bà Nguyệt và giao tiền rồi đi uống rượu tiếp rồi ra về. Sáng hôm sau phát hiện sai trái, tôi yêu cầu bà Nguyệt viết lại giấy thì bà Nguyệt không viết và luôn tìm cách tránh né hòng chiếm đoạt.

Cuối năm 2019, sau nhiều lần tôi đốc thúc, bà Nguyệt chấp thuận làm nốt 1/6 mục còn lại cho tôi nhưng khi tư vấn báo giá, bà Nguyệt chê đắt rồi thoái thác.

Từ 2014 đến nay tôi đã và đang phải bỏ ra 1 khoản tiền lớn khác để lo tiếp dự án bà Nguyệt làm dang dở. Tôi đang hết sức khó khăn, muốn đòi lại tiền của bà Nguyệt thì tôi phải làm sao đây ?

Cảm ơn luật sư!

Người hỏi: N.M.Thắng

2. Luật sư tư vấn:

Do những bất minh về mặt pháp lý cũng như cơ chế thực hiện xin các dự án đầu tư mà không ít người đã chi tiền để "chạy" qua các cò trung gian dưới hình tức cung cấp dịch vụ. Vậy, nếu việc làm này không thành thì có căn cứ nào để khởi kiện đòi lại tiền hay không ? Luật Minh Khuê tư vấn cụ thể:

2.1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi nào?

Căn cứ quy định của Bộ luật dân sự 2015 và Các văn bản pháp luật khác liên quan:

Thứ nhất, theo thông tin Quý khách cung cấp, Quý khách và bà Nguyệt có lập biên bản thỏa thuận về việc thuê làm trọn gói thủ tục để xây dựng nhà máy gạch không nung cấp tại xóm 12, thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nên là một giao dịch dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự 2015. Trong đó, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn khởi kiện cập nhật mới nhất năm 2020 và hướng dẫn cách viết đơn khởi kiện

2.2 Hình thức của giao dịch dân sự được thực hiện như thế nào?

- Về hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. (Điều 117 Bộ luật dân sự 2015).

Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự như sau:

Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

Như vậy, thỏa thuận giữa Quý khách và bà Nguyệt nếu tuân thủ đầy đủ các điều kiện trên thì có hiệu lực và hợp pháp.

Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự cũng quy định hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng. Nội dung đó có thể bao gồm các nội dung như: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền và nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giải quyết tranh chấp,…(Điều 398 Bộ luật dân sự). Theo đó, hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi, hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong “Giấy thỏa thuận” đề ngày 10/6/2013 và “Giấy biên nhận” đề ngày 26/6/2013 và 17/10/2014 do bà Nguyễn Thị Nguyệt viết không ghi nhận rõ quyền, nghĩa vụ của các bên trong thỏa thuận dân sự giữa bà Nguyệt và Quý khách. Điều 404 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

2.3 Mối quan hệ trong các điều khoản của hợp đồng được thể hiện như thế nào?

Do những bất minh về mặt pháp lý cũng như cơ chế thực hiện xin các dự án đầu tư mà không ít người đã chi tiền để "chạy" qua các cò trung gian dưới hình tức cung cấp dịch vụ. Vậy, nếu việc làm này không thành thì có căn cứ nào để khởi kiện đòi lại tiền hay không ? Luật Minh Khuê tư vấn cụ thể:

Điều 404. Giải thích hợp đồng

1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.

2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của hợp đồng.

3. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.

4. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng.

5. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.

6. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia.”

Bởi thế cho nên, Do vậy, nếu có bằng chứng cụ thể về các công việc mà bà Nguyệt đã thỏa thuận thực hiện cho Quý khách thì Quý khách có quyền yêu cầu bà Nguyệt tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận đó hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 424 Bộ luật dân sự). Việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được quy định cụ thể tại Điều 13, Điều 360, Điều 419 Bộ luật dân sự như sau:

- Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.

- Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài Uy tín, Chuyên nghiệp

Thứ hai, Quý khách cung cấp thông tin trong lúc giao 500 triệu đồng tiếp theo cho bà Nguyệt để làm dự án, lợi dụng lúc đèn tối và Quý khách không tỉnh táo, bà Nguyệt đã cố tình viết sai nội dung từ “…nhận trước 500 triệu đồng để làm tiếp dự án…” thành “Nay đã xong, anh Thắng không còn nợ tôi nữa”. Sau khi phát hiện ra, Quý khách đã yêu cầu bà Nguyệt viết lại giấy nhưng bà Nguyệt không viết và luôn tìm cách tránh né. Như vậy, nếu có bằng chứng cụ thể chứng minh việc thực hiện giao dịch giữa Quý khách và bà Nguyệt trong trạng thái không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, hoặc do bị lừa dối thì Quý khách có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu (Điều 127, 128 Bộ luật dân sự). Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

Do những bất minh về mặt pháp lý cũng như cơ chế thực hiện xin các dự án đầu tư mà không ít người đã chi tiền để "chạy" qua các cò trung gian dưới hình tức cung cấp dịch vụ. Vậy, nếu việc làm này không thành thì có căn cứ nào để khởi kiện đòi lại tiền hay không ? Luật Minh Khuê tư vấn cụ thể

Trên đây là tư vấn, phân tích quy định pháp luật của chúng tôi. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?