Trả lời:

Chào quý khách! cảm ơn quý khách hàng đã gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của chúng tôi, Vấn đề quý khách đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009); Bộ luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)

- Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật hình sự năm 2015)

2. Nội dung tư vấn:

Chào luật sư Con là sv Con đặt hàng quần áo trên mạng, con gửi tiền vào tk cho họ, mà họ ko gửi hanhg, số tiền là 900k Giờ con phải làm thế nào ạk Để ng khák ko bị lừa như con nửa Đã gửi từ iPhone của tôi
Thưa luật sư, Em cần kiện 1 hình thức lưa đảo qua mạng bằng hình thức giao dịch trung gian . đã lừa của em 800 ngàn đồng. mong anh chị có thể giúp em. đối tượng bán đã ko giao dịch đúng yêu cầu. và đòi em phải gửi tiếp số tiền mới đưa đưa thông tin cho em

Từ thông tin mà các bạn cung cấp, có thể thấy rằng các bạn đang bị đối tượng khác lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo quy định của pháp luật thì các hành vi đó có dấu hiệu của tội phạm hình sự, cụ thể như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

>> Xem thêm:  Thủ tục mở cửa hàng đèn trang trí nhỏ đúng luật ?

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

>> Xem thêm:  Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa cá nhân với cá nhân thì bên bán có cung cấp hóa đơn theo quy định của pháp luật hay không ?

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó:

1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

>> Xem thêm:  Thời hạn nộp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

3. Mặt chủ quan

>> Xem thêm:  Công ty có nhiều hóa đơn GTGT của hàng mua vào nhiều có được hoàn thuế GTGT hay không ?

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Tuy nhiên cần lưu ý:

Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Trong trường hợp này, bạn bị lừa số tiền 450.000 đồng và 200.000 đồng vì không chắc người đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm nên không đủ căn cứ để khởi kiện họ theo pháp luật hình sự. Khi đó, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự để kiện đòi lại tài sản, như sau:

"Điều 259. Quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp

Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó; nếu không có sự chấm dứt tự nguyện thì có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm."

Theo phương án này, bạn gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền . Ở đây là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

Tuy nhiên, có thể thấy số tiền bạn bị mất không lớn, nếu theo kiện tại Tòa án, bạn sẽ mất thời gian và án phí, vì vậy, bạn coi như mất số tiền này và coi đó là bài học cho mình, cần cẩn thận khi mua hàng qua mạng hơn. Trong trường hợp này, bạn cần thông báo trên mạng cho những người thân để họ có thể tránh đối tượng đó ra.

Thưa luật sư. Em có mua hàng trên mạng trị giá 2.400.000. Em chuyển khoản vào tài khoản của bạn người bán ( vì cùng ngân hàng nên sẽ nhận được tiền sớm hơn) nhưng người bán báo với em là bạn họ nhận được tiền nhưng nói là thẻ đang có vấn đề và có ý không đưa tiền em đã chuyển. Em có số tài khoản của họ ra ngân hàng xác nhận họ đã nhận được tiền. Giờ e chỉ biết số tài khoản có đòi lại được không ạ? Mong luật sư sớm phản hồi. Em xin chân thành cảm ơn

Việc biết được số tài khoản sẽ là 1 trong những căn cứ để cơ quan điều tra xác nhận các giao dịch của số tài khoản đó, từ đó chứng minh được việc bạn đã chuyển tiền cho họ. Vì vậy, theo những quy định đã trích dẫn ở trên, bạn có thể khởi kiện đòi họ. Nhưng bạn nên cân nhắc, vì số tiền này không quá lớn, nếu như bạn quyết đinh khởi kiện ra tòa án thì sẽ rất mất thời gian và công sức. Vì vật bạn nên thỏa thuận với họ, nếu không thỏa thuận được thì coi như mất số tiền này.

Xin chào luật sư! Cháu tên Q, năm nay 15 tuổi. Cháu có một thắc mắc, mong được luật sư tư vấn. Vừa rồi cháu có mua hàng qua một trang mạng. Người bán giới thiệu sản phẩm (giày), chất liệu da, và quảng cáo khách hàng khi mua hàng, nếu không vừa ý khi nhận hàng có thể trả lại, với điều kiện sản phẩm chưa sử dụng kèm với phiếu mua hàng. Khi cháu nhận được sản phẩm thì sản phẩm hoàn toàn không đúng chất lượng với quảng cáo từ người bán (không đúng chất liệu). Cháu có gọi đến người bán, yêu cầu đổi trả, nhưng người bán không đồng ý. Như vậy, cháu nên phải làm gì. Đó có phải là lừa gạt tài sản không ạ. Mong được giải đáp. Cháu xin cảm ơn.

Vì theo như lời quảng cáo là bạn được đổi trả lại hàng khi đáp ứng đủ các điều kiện của công ty đó đưa ra, vì vậy, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu bên đó đổi trả lại hàng cho bạn. Tuy nhiên, theo thông tin bạn đưa ra, có thể thấy ở đây có hành vi lừa đối, cung cấp thông tin sai sự thật để cho người khác mua hàng. 

Điều 168. Tội quảng cáo gian dối

>> Xem thêm:  Chủ hàng không giao hàng thì phải làm gì ?

1. Người nào quảng cáo gian dối về hàng hoá, dịch vụ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Thưa luật sư, Cho cháu hỏi điều kiện như thế nào thì có thể khởi kiện những người mua bán qa mạng ? Cảm ơn!

Nếu những người buôn bán qua mạng có hành vi quảng cáo sản phẩm gian dối, lừa đảo để bạn chuyển khoản mà không chuyển hàng cho bạn... theo quy định pháp luật hình sự và dân sự thì bạn có quyền khởi kiện. Tuy nhiên, bạn cần cân nhắc xem có nên khởi kiện hay không khi số tiền mà bạn bị lừa đảo là con số < 2triệu="" đồng="" vì="" thủ="" tục="" tố="" tụng="" sẽ="" mất="" nhiều ="" thời="" gian="" và="" chi="" phí="" của="">

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Hàng hóa hư hỏng, hết hạn sử dụng có phải xuất hóa đơn không ?