1. Không có giấy vay tiền có khởi kiện đòi nợ được không?

Thưa luật sư, Tôi muốn Luật sư tư vấn 1 việc như sau: Tôi có bà chị, với lòng tin người trong nhà đã vay ở bên ngoài, cầm tiền của nhà cho Cậu ( em mẹ ) với số tiền gần 3 tỷ đồng từ tháng 1/2012. nhưng trong quá trình giao nhận tiền nhiều lần không có bất cứ giấy tờ gì ghi nhân việc giao nhận, gần đây do khó khăn đến đòi lại thì Cậu ấy chơi ỳ không trả, thậm trí còn định xù nợ, với số tiền trên tính đến thời điểm này là rất lớn so với 1 vùng quê ở hải dương.

Vậy tôi muốn Luật sư tư vấn trong trường hợp này có thể khởi kiện ra tòa?, và trình tự thủ tục như thế nào?

Người gửi: Nguyễn Công Lâm

Trả lời:

Cơ sở pháp lý: điều 471 Bộ luật dân sự 2005, khoản 1 điều 84, điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự 2004;

Đây là trường hợp người Cậu đã vay tiền của gia đình với số tiền gần 3 tỷ đồng mà không có giấy tờ chứng minh cho việc vay tiền đó là một thiếu sót rất lớn. Bởi vì để đưa vụ này ra trước pháp luật thì đòi hỏi bên khởi kiện người Cậu ra Tòa phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh để đưa đến Tòa yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự này. Tức là, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho bạn thì trong quá trình vay tiền bạn phải lập một hợp đồng vay tài sản bằng văn bản có ghi số tiền vay trong hợp đồng theo quy định tại điều 471 BLDS : “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Nội dung của hợp đồng bao gồm các điều khoản cơ bản như : thông tin về bên vay và bên cho vay; quyền và nghĩa vụ của bên vay (là người Cậu) với bên cho vay (bạn); số tiền vay; thời hạn trả nợ v.v… các điều khoản khác các bên có thể tiến hành thỏa thuận thêm miễn là pháp luật không cấm. Đây là một nguồn chứng cứ quan trọng để bạn có thể nộp cho Tòa khi xảy ra trường hợp người Cậu xù nợ, không chịu trả tiền mà vấn đề này chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng.

Sở dĩ, việc thành lập hợp đồng là điều rất cần thiết bởi vì theo quy định tại khoản 1 điều 84 BLTTDS thì trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự này của bạn thì bạn có nghĩa vụ nộp chứng cứ cho Tòa án, nếu bạn không nộp hoặc không nộp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án thì bạn phải chịu mọi hậu quả pháp lý vì đã không nộp hoặc không nộp đầy đủ đó. Mặt khác, theo điều 166 BLTTDS nếu bạn muốn khởi kiện vụ này ra Tòa, bạn phải làm đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ đến Tòa án. Do đó, tốt nhất bạn phải có tài liệu chứng minh việc người Cậu đã vay bạn số tiền 3 tỷ đồng trên để đảm bảo Tòa án sẽ xét xử bạn thắng kiện và khả năng người Cậu sẽ buộc phải hoàn trả số tiền trên.

Trường hợp của bạn là vay tiền giữa những người thân trong gia đình, nhưng bạn không nên vì lòng tin cho người Cậu vay tiền để xảy ra trường hợp đáng tiế như trên. Người ta nói “tình ngay lí gian” nếu bạn không có cơ sở để chứng minh thì bạn không có khả năng để yêu cầu người Cậu trả tiền nữa.

Kết luận: Do đó, nếu không có bất cứ giấy tờ giao nhận hay hợp đồng vay tài sản gì thì chúng tôi không thể giúp bạn được và bạn không thể đưa vụ này khởi kiện trước tòa được vì không đủ chứng cứ chứng minh.

Ý kiến trả lời bổ sung:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Luật Minh Khuê xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Việc cho vay tiền giữa chị bạn với người cậu là giao dịch dân sự. Pháp luật quy định giao dịch dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Do vậy, giao dịch vay mượn tiền nêu trên được pháp luật công nhận.

Theo Điều 33, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 (BLTTDS) chị của bạn có thể gửi đơn khởi kiện đòi lại tiền đến Tòa án nhân dân huyện quận nơi bị đơn (là người chị của bạn cho vay tiền) cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết. Và để đảm bảo đơn kiện được Tòa án chấp thuận và thụ lý bạn phải cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc xác định đã có quan hệ giao dịch vay tiền trên thực tế, các tài liệu chứng minh có việc vay tiền, nhận tiền giữa hai bên theo quy định tại điều 166 BLTTDS.

Theo quy định tại Điều 83 BLTTDS về xác định chứng cứ, "chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc". Đối với "các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó”. Có nghĩa là việc vay mượn giữa hai bên không thiết lập hợp đồng, cũng không có giấy biên nhận mà chỉ có bản ghi âm. Để bản ghi âm này trở thành chứng cứ, nội dung bản ghi âm phải ghi nhận việc vay mượn giữa hai bên. Đồng thời bạn phải xuất trình được văn bản xác nhận xuất xứ (ví dụ nếu ghi âm bằng điện thoại, bạn phải được nhà cung cấp dịch vụ mạng cung cấp cuộc gọi, thời gian...). Nếu bạn không xuất trình được thì bản ghi âm này khó thể trở thành chứng cứ trong vụ án.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn không thiết lập hợp đồng cho vay, cũng không có giấy biên nhận hay giấy ghi nợ nên bạn có thể xuất trình cho Tòa án các chứng cứ như bản ghi âm cuộc giao dịch vay tiền, nội dung tin nhắn vay tiền, hay nội dung email, người làm chứng xác nhận có việc vay tiền của bị đơn đối với nguyên đơn.

Ý kiến bổ sung:

Chào bạn, Trường hợp của bạn, Luật Minh Khuê trả lời như sau:

Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành (BLTTDS) quy định người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Điều này có nghĩa, để đơn khởi kiện của anh được chấp nhận, anh phải có chứng cứ thể hiện mối quan hệ vay hoặc cả hai bên đều thừa nhận có khoản vay này.

Theo quy định tại Điều 83 BLTTDS về xác định chứng cứ, "chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc". Đối với "các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó”.

Trường hợp như của gia đình bạn thì cần phải tạo lập bằng chứng về việc vay, mượn và làm rõ số tiền là bao nhiêu.

Một trong các cách rất hữu hiệu đó là việc ghị âm, để thỏa mãn là chứng cứ có nguồn gốc theo Điều 83, bạn phải được nhà cung cấp dịch vụ mạng cung cấp cuộc gọi, thời gian... Nếu anh không xuất trình được thì bản ghi âm này khó thể trở thành chứng cứ trong vụ án.

Trong trường hợp người đó vay của nhiều người và không trả được, gia đình bạn có thể cùng các trường hợp khác làm đơn trình báo cơ quan công an về sự việc nêu trên. Nếu có nhiều đơn tố cáo, cơ quan công an sẽ vào cuộc và xem xét bản chất vụ việc, nếu có dấu hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản sẽ khởi tố vụ án.

BLTTDS quy định thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trình tự, thủ tục khởi kiện được quy định cụ thể như sau:

Bước 1: Xác định về điều kiện khởi kiện:

1. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

a/ Xác đinh vụ việc có thuộc một trong các loại việc theo quy định;

b/ Xác định vụ việc đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

2. Xác định về thời hiệu khởi kiện:

Điều 159. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu

1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau:

a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;

b) Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.

Bước 2: Thu thập chứng cứ, tài liệu chuẩn bị khởi kiện:

Bước 3: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện:

Hồ sơ khởi kiện là hồ sơ mà nguyên đơn nộp cho Tòa án khi khởi kiện vụ án dân sự bao gồm:

- Đơn khởi kiện (theo mẫu);

- Các tài liệu liên quan đến vụ kiện;

- Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có sao y) nếu là cá nhân;

- Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện là tổ chức;

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Bước 4: Nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án.

- Thủ tục nhận đơn khởi kiện tại Tòa án:

Tòa án nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, Tòa án phải tiến hành thụ lý vụ án. Ngược lại, nếu xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện hoặc trả lại đơn khởi kiện nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì tòa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và những chứng cứ kèm theo.

- Thông báo về việc thụ lý vụ án:

Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người nhận được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).

Bước 5: Thực hiện các thủ tục cần thiết sau khi Tòa án ra thông báo thụ lý vụ án

Ý kiến trả lời bổ sung:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Chúng tôi, Theo các dữ liệu bạn cung cấp , tôi có thể trả lời bạn như sau:

1. Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005: "Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Bộ luật Dân sự không yêu cầu cụ thể về hình thức của hợp đồng vay tài sản, do đó giao dịch vay tài sản có thể được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, hình thức không phải là yếu tố quyết định hiệu lực của hợp đồng vay tiền.

Trường hợp như chị của bạn thì cần phải tạo lập bằng chứng về việc vay bằng việc gọi điện, nhắn tin, gặp gỡ để ghi âm, ghi chép hoặc có biên bản thừa nhận khoản nợ này của người vay thì tòa án mới có căn cứ thụ lí hồ sơ vụ án của bạn.

2. Thủ tục khởi kiện :

- Tại điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 có quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm”. Ngoài ra, tại Điều 427 BLDS năm 2005 có quy định “ Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Do đó, trong khoảng thời gian 2 năm kể từ ngày mà quyền lợi của bạn bị xâm phạm thì bạn có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của mình.

- Hồ sơ khởi kiện tại tòa án bao gồm:

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu);

+ Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

+ Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu gia đình (có chứng thực hoặc công chứng).

+ Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (bạn phải ghi rõ số lượng bản chính, bản sao)- các tài liệu này bạn phải đảm bảo có tính căn cứ và hợp pháp.

- Về án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 131 BLTTDS năm 2004 có quy định “Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Toà án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn nộp án phí sơ thẩm hoặc không phải nộp án phí sơ thẩm”. Mặt khác, tại Điều 27 pháp lệnh số 10/2009 về án phí, lệ phí tòa án năm 2009 UBTVQH12 có quy định như sau: “1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

Do vậy, khi bạn làm đơn gửi ra tòa án, bạn là nguyên đơn trong vụ án dân sự, việc bạn phải nộp án phí hay không hoặc nộp bao nhiêu thì còn phụ thuộc vào quyết định của Tòa án

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

2. Tư vấn về việc vay nợ rồi bỏ trốn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Gia đình cháu có thân thiết với một cô hàng xóm khoảng 6,7 năm. Cô ấy làm hạt điều nên hay mượn tiền mẹ cháu để đi lấy hàng .
Vài tháng nay trươc cô ấy nói đi ra miền trung làm ăn chứ ở đây làm không được, mỗi tháng cô ấy sẽ gửi tiền qua cho mẹ cháu . Nhưng đến giờ vẫn chưa thấy đâu, một cuộc gọi cũng không gọi. Khi mẹ cháu qua nhà cô ấy thì được tin nhà này đã bị ngân hàng lấy . Các con của cô ấy thì đưa sang nhà ngoại ở . Số tiền mà cô ấy đang mượn của mẹ cháu là gần 3 tỉ đồng . Cháu muốn hỏi đây có được gọi là trốn nợ không ? Mẹ cháu có thể làm đơn kiện đòi lại tiền được không ?
Cháu xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Đ.H.C.Tiên

Tư vấn về việc vay nợ rồi bỏ trốn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì cô hàng xóm của mẹ bạn đã vay bạn số tiền gần 3 tỉ và hứa mỗi tháng sẽ gửi tiền giải. Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại, cô hàng xóm đó vẫn chưa chỉ trả được một phần nào. Hiện nay người bạn đó đã chuyển chỗ ở, chặn mọi hình thức liên lạc với mẹ bạn; như vậy đã có dấu hiệu bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ và chiếm đoạt số tiền đã vay. Vì vậy với số tiền mẹ bạn đã cho vay và những hành vi của cô hàng xóm đó, mẹ bạn có thể khởi kiện tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 điều 140 Bộ luật hình sự 2004.

Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999; Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Theo đó, trước tiên mẹ bạn cần làm đơn tố cáo đến cơ quan công an nơi bạn cư trú. Sau khi xem xét và xác định cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển quyền điều tra vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Nội dung đơn tố cáo bao gồm : họ tên, địa chỉ của người tố cáo; họ tên, chức vụ, hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những yêu cầu liên quan của người tố cáo. Dựa theo đơn tố cáo của mẹ bạn, vụ việc sẽ được xem xét có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự hay không theo quy định tại điều 103 BLHS như sau :

“1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

3. Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.”

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

3. Tư vấn khởi kiện bị ép kí vào giấy vay nợ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Mẹ em giấu gia đình đi chơi hụi. Sau một thời gian chơi bà không đủ khả năng để đóng và bị bà chủ hụi bắt ép ký giấy nợ. Nhưng mẹ em không biết chữ và chủ hụi tự cầm tay mẹ em ký vào.
Bây giờ bà chủ hụi kiện ra tòa. Vậy em muốn hỏi là trong trường hợp này gia đình em có kiện ngược lại được không ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.S

Tư vấn khởi kiện bị ép kí vào giấy vay nợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận hình thức giao dịch chơi hụi. Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản mới thay thế: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định :

“. Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên "

Những người chơi hụi sẽ góp tiền trong nhiều lần, định ra số tiền góp trong từng lần trong một thời gian nhất định. Đến thời gian định ra thì một người trong số người chơi hụi sẽ lĩnh số tiền mà tất cả người chơi góp vào. Việc này được lập đi lập lại cho đến khi hết vòng và tất cả những người chơi đều được lĩnh tiền. Về bản chất thì chơi hụi là thực hiện một hợp đồng cho vay. Do đó người chơi hụi chỉ được quyền dừng chơi khi hết một vòng chơi hoặc người chơi chưa lĩnh tiền chơi hụi ( không phát sinh nghĩa vụ trả nợ cho những người đã góp tiền để bản thân lĩnh) hoặc đã lĩnh tiền nhưng trước khi dừng chơi phải thanh toán tiền cho tất cả những người đã góp tiền cho bản thân lĩnh.

Trong trường hợp của bạn, bạn có nói khi mẹ bạn dừng chơi hụi đã bị chủ hụi ép kí giấy nợ và hiện nay bà chủ hụi đã kiện ra tòa.Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì tòa án chỉ giải quyết vụ việc dân sự theo yêu cầu của đương sự. Trong trường hợp này bà chủ hụi chỉ khởi kiện yêu cầu trả nợ theo tờ giấy nợ. Tờ giấy nợ này được coi là một hợp đồng cho vay tài sản. Do đó gia đình bạn có quyền phản tố yêu cầu tòa án tuyên bố giấy nợ vô hiệu do người tham gia giao dịch không tự nguyện kí kết ( điều 122 Bộ luật dân sự).

Ngoài ra nếu sau này bà chủ hụi yêu cầu mẹ bạn trả tiền do dừng chơi hụi. Việc này giải quyết như sau : Nếu mẹ bạn đã lĩnh tiền hụi mà chưa chơi hết vòng thì mẹ bạn có nghĩa vụ trả tiền cho những người đã góp tiền để cho mẹ bạn lĩnh ; Nếu mẹ bạn chưa lĩnh tiền thì mẹ bạn có thể dừng chơi hụi và không phải trả tiền(vì chưa phát sinh nghĩa vụ trả nợ và mục đích chơi hụi là tương trợ trong nhân dân ). Mẹ bạn chưa lĩnh tiền mà không có khả năng chơi nữa thì có thể yêu cầu dừng chơi và yêu cầu những người đã lĩnh tiền trong những lĩnh hụi trước trả lại số tiền mà mẹ bạn đã góp cho họ.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Rủi ro khi nhờ người đứng tên vay trả góp mua nhà và đứng tên nhà hộ là gì ?

4. Tư vấn về việc vay nợ lâu ngày mất khả năng trả nợ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp:Cách đây khoảng 2 năm do bị bệnh nên tôi có vay tiền của người khác. Đến thời điểm hiện tại, tôi không còn khả năng trả lại nữa. Nay tôi xin trả lãi theo lãi suất ngân hàng và sau 2 năm sẽ trả vốn. Như vậy có được không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.T

Tư vấn về việc vay nợ lâu ngày mất khả năng trả lại ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như bạn trình bày, bạn vay tiền của người khác nhưng hiện nay không thể đúng thời hạn. Như vậy, bạn và bên cho vay đã thiết lập hợp đồng vay tài sản theo Điều 471 Bộ luật dân sự 2005:

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Do đó, bạn có nghĩa vụ trả lại đầy đủ số tiền đã vay theo thời hạn đã thỏa thuận. Nếu là hợp đồng vay có lãi thì bạn phải trả đầy đủ gốc và lãi theo hợp đồng và theo quyd dịnh về lãi suất sau đây:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, hiện tại bạn hoàn toàn có thể thỏa thuận, thương lượng với bên cho vay về viêc trả nợ của bạn, theo quy định về gia hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự:

Điều 305. Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Về mức lãi suất cho vay, bạn nên lưu ý thỏa thuận lãi suất phù hợp, theo Điều 476 nêu trên. Nếu trước đó bạn vay có lãi thì bạn thực hiện trả lãi theo hợp đồng, nhưng lãi suất phải phù hợp với quy định pháp luật. Hiện nay, mức lãi suất của Ngân hàng Nhà nước là 9%/năm. Nên mức lãi suất tối đa bạn và bên cho vay được áp dụng là 9 . 1,5 = 13,5%/năm, tương đương tối đa 1,125%/tháng.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 .

>> Xem thêm:  Vay tiền trả góp bị quá hạn thanh toán thì phải chịu trách nhiệm gì ?

5. Người vay nợ dưới 18 tuổi thì giấy tờ vay có giá trị không ?

Chào luật sư Minh Khuê, Tôi có cho người ta vay tiền bằng giấy viết do bên vay tự viết và tự kí và có cả người làm chứng ạ. Người vay sinh năm 1995 thì liệu có giấy từ vay có giá trị trước pháp luật của nhà nước không ?
Mong được luật sư tư vấn ạ. Chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định :

ĐIỀU 116. Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định

Điều 119. hình thức giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó."

"Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."

Giao dịch dân sự vay không yêu cầu hình thức buộc phải lập thành văn bản hay phải có công chứng. Ngoài ra theo thông tin bạn cung cấp người vay ở đây đã đủ tuổi thành niên , đủ 18 tuổi tại thời điểm vay nên giao dịch này đảm bảo được hình thức theo điều 119 nên giao dịch này được coi là hợp pháp.

>> Bài viết tham khảo thêm: Hiệu lực của giấy vay tiền viết tay như thế nào ?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phải làm sao khi bị công ty tài chính làm phiền khi lỡ xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp ?