1. Không thực hiện bản án của Tòa khi ly hôn giải quyết thế nào ?

Thưa luật sư tư vấn, xin hỏi: Tôi xin được nhờ luật sư tư vấn giúp trường hợp của tôi. Tôi làm đơn đơn phương và yêu cầu đòi chia tài sản (Xin nhận bằng tiền mặt khoảng 1 tỷ đồng). Cho tôi xin phép được hỏi là, nếu tòa án phán quyết là chia đôi tài sản, mà chồng tôi không thực hiện, Thì tòa án có biện pháp chế tài gì cho người vợ không ạ ?
P/S: Tài sản do hai vợ chồng đứng tên, được hình thành trong tg chung sống ?
Xin VP luật sư tư vấn giúp! Chân thành cảm ơn.

Luật sưphân tích:

Khoản 1 Điều 19 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 19. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án

1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành..."

Như vậy, nếu bản án đã có hiệu lực pháp lý thì tất cả cá nhân, tổ chức có liên quan đều phải chấp hành. Nếu chồng bạn không chấp hành, bạn có thể yêu cầu cơ quan thi hành án can thiệp, giải quyết theo quy định tại Điều 7 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014:

"Điều 7. Quyền yêu cầu thi hành án

Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án."

Và có thể trong trường hợp này chồng bạn sẽ phải chịu trách nhiềm hình sự về tội không chấp hành án theo quy định tại Điều 380 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

"Điều 380. Tội không chấp hành án

1. Người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm."

Thưa luật sư, Anh Trai Tôi kết hôn từ năm 2001 và có 1 đứa con chung, có đăng ký kết hôn tử tế. Tháng 12/2012 chị Dâu có đi sang singapore nói là đi lao động nhưng thực chất lại khai man để kết hôn với một người đàn ông singapore ( sự việc này mãi tới cuối năm 2018 Anh Trai Và gđ Tôi mới biết và yêu cầu chị Ta về ly hôn nhưng chị Ta k về, mãi tới bây giờ khi có trong tay đầy đủ giấy tờ chứng cứ Tôi mới biết vì chị ta phải ly hôn ng chồng bên singapore trước 11/2018 và tới tháng 3/2019 mới về cùng A Tôi ra toà...và hiện tại lại tiếp tục kết hôn với một ng singapore. Hiện tại gia đình có bằng chứng trong tay và đã dịch thuật qua đây nhờ Luật sư tư vấn cho gđ biết các thủ tục cần và đúng để làm hồ sơ gửi tới các cơ quan chức năng tố cáo hành vi gian dối và vi phạm pháp luật của chị Ta ạ. Gđ Tôi xin chân thành cảm ơn.

Khoản 11 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"11. Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình."

Trong trường hợp này nếu như chồng của chị dâu bạn hay những cá nhân, tổ chức khác biết được chị dâu bạn có hành vi kết hôn giả tạo này đều có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nhà nước xem xét để hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Căn cứ Khoản 4, Nghị định 110/2013/NĐ-CP có quy định về mức xử phạt hành chính đối với hành vi kết hôn giả mạo như sau:

Điều 28. Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và môi giới kết hôn

4. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh; nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài;

b) Lợi dụng việc kết hôn để hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước hoặc để thực hiện các mục đích trục lợi khác.

Như vậy, nếu có căn cứ rõ ràng rằng chị dâu bạn có hành vi kết hôn giả tạo hoặc lừa dối kết hôn thì gia đình bạn có thể gửi đơn tố cáo tới TAND để tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình của chị dâu bạn và yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình.

Thưa luật sư, Chúng tôi có một vấn đề muốn được luật sư tư vấn:Có một cặp vợ chồng mà chưa hề đăng ký giấy kết hôn, con cái lại do cha của người vợ đứng tên làm giấy khai sinh. nay người chồng muốn ly hôn thì có cần ra tòa án giải quyết không thưa luật sư. Chuyện thứ hai là ngày trước hai vợ chồng chưa đủ tuổi kết hôn mà cha mẹ hai bên vần cho về sống chung bên nhà vợ được một thời gian dài, hiện tại người chồng cảm thấy sống với nhau không hợp nên quyết định không sống nữa nhưng người cha vợ nói là sẽ đi thưa. Vậy luật sư cho hỏi khi bị thưa người chồng có gặp phải vần đề về pháp luật gì hay không. Rất mong sự phản hồi từ luật sư, chân thành cảm ơn.

1, Có cần phải ra Tòa ly hôn không:

Trong dữ liệu bạn đưa ra không nói rõ cặp vợ chồng này chung sống với nhau từ năm bao nhiêu do đó chúng tôi không thể trao đổi chính xác được tuy nhiên chúng tôi vẫn sẽ trao đổi với bạn như sau:

- Nếu cặp vợ chồng này sống với nhau trước ngày 3/1/1987 thì theo quy định tại Nghị quyết 35/2000/QH10 thì bắt buộc vợ chồng nhà này vẫn phải thực hiện thủ tục ly hôn.

- Nếu cặp vợ chồng này sống với nhau sau ngày 3/1/1987 thì theo quy định tại Nghị quyết 35/2000/QH10 thì vợ chồng nhà này không nhất thiết phải làm thủ tục ly hôn.

2, Chưa đủ tuổi kết hôn nhưng vẫn kết hôn với nhau:

Trong dữ liệu bạn đưa ra không nói rõ cặp vợ chồng này chung sống với nhau từ năm bao nhiêu và đã bị xử phạt vi phạm hành chính hay chưa do đó chúng tôi không thể trao đổi chính xã được tuy nhiên chúng tôi vẫn sẽ trao đổi với bạn như sau:

- Kể từ thời điểm cặp vợ chồng này chung sống với nhau, tính tới thời điểm này nếu như chưa vượt quá 1 năm thì tất cả những người có hành vi tảo hôn đều phải chịu trách nhiệm hành chính theo quy định tại Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính, phòng chống bạo lực gia đình:

"Điều 55. Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.
2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác."

- Kể từ thời điểm cặp vợ chồng này chung sống với nhau, tính tới thời điểm này nếu như đã vượt quá 1 năm nhưng chưa qua 5 năm thì tất cả những người có hành vi tảo hôn đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 183 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

"Điều 183. Tội tổ chức tảo hôn

Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm."

- Kể từ thời điểm cặp vợ chồng này chung sống với nhau, tính tới thời điểm này nếu như đã vượt quá 5 năm thì tất cả những người có hành vi tảo hôn đều không phải chịu bất kỳ trách nhiệm gì cả.

Xin chào các anh chị! Hiện nay tôi đang làm đơn ly hôn và nhận nuôi con(4 tuổi).Tuy nhiên vợ tôi cũng nhận nuôi.Cháu mắc chứng tự kỷ.Vậy xin hỏi tôi có dc nhận nuôi cháu không? 2. Vợ tôi đòi chu cấp 3 triệu/tháng tiền chu cấp cho con (do con bị bệnh) trong khi thu nhập của tôi là 5,5 triệu/tháng, của vợ là 4 triệu/tháng. Vậy tối đa tòa sẽ chấp nhận mức chu cấp của tôi là bao nhiêu? Vợ tôi đòi chia 2/3 tài sản chung vì nuôi con.vậy tòa sẽ xử ra sao nếu tôi không đồng ý Xin cảm ơn sự tư vấn của anh chị

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì con bạn hiện tại 4 tuổi và hai vợ chồng bạn đang có nhu cầu muốn giành quyền nuôi con, theo quy định pháp luật trên thì người nào có điều kiện nuôi con tốt hơn thì người đó sẽ được cơ quan nhà nước giao cho quyền nuôi con.

Giả sử vợ bạn là người được cơ quan nhà nước giao cho quyền nuôi con trực tiếp, theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì bạn sẽ phải là người cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng sẽ căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của bạn và nhu cầu thiết yếu của con bạn, cụ thể:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng
1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Nếu như hai vợ chồng bạn không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phân chia tài sản thì Tòa án sẽ giải quyết cho vợ chồng bạn theo đúng nguyên tắc được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Ly hôn như thế nào khi đã được hòa giải hai lần ?

Xin chào luật sư, em xin hỏi em làm đơn ly hôn đơn phương gửi tand huyện và tòa đã triệu tập hòa giải 2 lần. Chồng em có mặt nhưng không chịu ly hôn và chúng em đã ly thân 7 năm. Em cũng đã có con ngoài giá thú bé 2 tuổi. Em cũng có 1 con chung 15 tuổi, cháu ở với em từ nhỏ. Em và chồng không có tài sản chung. Trường hợp của em giải quyết thế nào ?
Mong luật sư tư vấn. Chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về đơn phương ly hôn như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Do đó, khi cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, bạn hoàn toàn có thể ly hôn theo yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nếu có căn cứ hợp lý cho việc giải quyết ly hôn này. Tuy đã hòa giải 2 lần vẫn có quyền yêu cầu tòa án giải quyết trong nhưng lần hòa giải tiếp theo. Nếu có lý do chính đáng cho việc ly hôn bạn hoàn toàn có thể thể hiện thái độ dứt khoát của mình với tòa án. Thủ tục đơn phương ly hôn như sau:

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

- Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của là tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú.

Theo điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quyền nuôi con sau ly hôn theo nguyên tắc sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy vì con chung của vợ chồng bạn đã 15 tuổi nên cháu được lấy ý kiến về việc ở với ai sau ly hôn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn cách ly hôn tốt nhất để có lợi cho người mẹ ?

Chào luật sư, tôi có câu hỏi xin được giải đáp: Mẹ tôi và dượng đã kết hôn từ năm 2002. Năm 2007, dượng và mẹ cùng nhau xây dựng một ngôi nhà trên mảnh đất do mẹ tôi đứng tên chủ hộ. Mảnh đất này là cơ quan của mẹ tôi cấp cho công nhân ở, chưa bán lại. Trong quá trình chung sống, dượng tôi bộc lộ là một người gia trưởng, độc đoán, hẹp hòi, coi thường vợ hay chơi lô đề. Chính vì vậy, dượng nợ nần khắp nơi, lãi mẹ đẻ lãi con.
Mặt khác, dượng mâu thuẫn với mẹ tôi trong việc dạy dỗ anh trai tôi ( anh tôi đã cưới vợ và cả hai đang ở cùng với mẹ và dượng). Viện cớ mẹ tôi không dạy được anh, dượng muốn ly hôn và đòi chia đôi tài sản, chủ yếu là ngôi nhà. Tuy nhiên, mẹ tôi thực sự lại không muốn ly hôn vì đã có tuổi và muốn giữ thể diện. Cho tôi hỏi, nếu mẹ và dượng ly hôn thì căn nhà và tài sản chung sẽ chia như thế nào? Con cái của cả hai bên có liên quan gì đến việc chia tài sản này không? Có cách nào để mẹ tôi có lợi thế hơn khi ra tòa ly hôn?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: T.K

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo thông tin bạn cung cấp, căn nhà được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của dượng và mẹ bạn, do vậy đây sẽ là tài sản chung của dượng và mẹ bạn. Hiện tại thì dượng và mẹ bạn muốn ly hôn, bạn đang băn khoăn không biết căn nhà này sẽ được chia như thế nào? Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Do vậy, căn nhà được xác định là tài sản của dượng và mẹ bạn nên sẽ được chia đôi, có xem xét đến công sức đóng góp và hoàn cảnh của mỗi bên. Nếu con cái có công sức đóng góp trong việc xây dựng ngôi nhà và chứng minh được phần công sức đóng góp hoặc được dượng và mẹ xác nhận thì được chia phần đóng góp đó.

Trường hợp để có lợi cho mẹ bạn thì bạn cần có giấy tờ, tài liệu chứng minh cho Tòa án thấy là mẹ bạn có công sức đóng góp nhiều hơn thì sẽ được chia phần nhiều hơn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Phân chia tài sản khi ly hôn như thế nào ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về vấn đề phân chia tài sản sau khi ly hôn, cụ thể như sau

Nội dung phân tích:

1. Thủ tục ly hôn bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung: Cháu tên gì? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn chị có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn chị muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Chị muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của các con;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

2. Về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn

Căn cứ theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn...

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

3. Về vấn đề chia con chung khi ly hôn:

Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

4. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;"

=> Vậy đối với đơn phương ly hôn thì phải nộp hồ sơ tại TAND cấp huyện nơi mà người còn lại cư trú. Còn ly hôn thuận tình thì có thể yêu cầu giải quyết tại TAND cấp huyện nơi chồng hoặc vợ cư trú đều được.

Thưa luật sư, tôi mua nhà năm 1996 đến năm 2000 tôi cưới vợ và đến năm 2004 làm đổi bìa đất màu hồng thì trong bìa đất có ghi tên của vợ tôi. Vậy giờ ly hôn thì tài sản đó gọi là tài sản chung hay không? Tôi vẫn đang có hồ sơ chứng minh là năm 1996 ngôi nhà mang tên tôi.

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

" Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Thì trước đó căn nhà là tài sản riêng của bạn nhưng vào năm 2004 bạn đã làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có cả vợ bạn đứng tên tức là bạn đã nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng. Vậy giờ ly hôn căn nhà đó được coi là tài sản chung và chia theo quy định pháp luật.

Thưa luật sư, Tôi và vợ cùng mang quốc tịch Việt Nam, hiện sống và làm việc tại Singapore.Vợ chồng tôi làm thủ tục ly hôn tại toà Singapore. Xin được hỏi: theo quy định mới nhất của Luật Việt Nam, cần thực hiện các thủ tục gì để hợp thức hoá quyết định ly hôn của toà Singapore ?

=> Thông tư 15/2015/TT-BTP hướng dẫn Luật hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về Hồ sơ ghi chú ly hôn bao gồm các giấy tờ sau:

1. Tờ khai ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài.

2. Bản sao giấy tờ chứng minh việc ly hôn, là một trong các giấy tờ: Bản án/Quyết định ly hôn của Toà án nước ngoài đã có hiệu lực thi hành; Bản thỏa thuận ly hôn do Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài công nhận đã có hiệu lực thi hành hoặc các giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp công nhận việc ly hôn.

3. Bản sao giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế để chứng minh nhân thân của người có đơn yêu cầu.

4. Bản sao hộ khẩu, trong trường hợp công dân Việt Nam ở nước ngoài về thường trú tại Việt Nam, có yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn mà việc kết hôn trước đây đã được đăng ký tại Cơ quan Đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Ly hôn đơn phương khi chồng đang ở nước ngoài?

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Ly hôn khi đương sự vắng mặt như thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi hiện đang du học tại Úc còn chồng ở Việt Nam. Tháng 1/2015 chúng tôi đã cưới và đăng kí kết hôn tại Việt Nam, ngay sau đó tôi sang Úc du học còn chồng vẫn sống tại Việt Nam. Trước khi tôi kết hôn đã từng bị phản bội nhiều lần nhưng vẫn chấp nhận tha thứ cho anh ấy, tuy nhiên anh ấy vẫn không hề thay đổi. Hiện tại không hẳn là tôi không muốn tha thứ mà tôi còn cảm thấy tình cảm của cả hai cũng mờ nhạt rồi.

Tôi không muốn chỉ ra rằng chúng tôi li hôn vì chồng ngoại tình bởi tôi không muốn những người thân biết tôi đã đau khổ thế nào. Chúng tôi không có tài sản chung, không có con chung. Tôi rất rối bời và cũng không muốn trở về để làm thủ tục li hôn.

Kính hỏi luật sư như sau: Chúng tôi cùng thuận tình li hôn nhưng tôi không về Việt Nam thì có thể li hôn theo cách thuận tình không? Thủ tục cụ thể như thế nào và chồng tôi có thể tự làm các giấy tờ thuận tình li hôn mà vắng mặt tôi không? Tôi có thể gửi đơn về Việt Nam để chứng minh rằng tôi cũng đồng tình li hôn hay không?

Với trường hợp của tôi thì toà sẽ giải quyết trong thời gian bao lâu?

Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Ly hôn khi đương sự vắng mặt như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo yêu cầu của bạn thì bạn cần xác định một số nội dung cơ bản sau để giải đáp được thắc mặc của mình:

Tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Theo như quy định trên, khi cuộc sống hôn nhân của gia đình bạn không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, bạn và chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về vấn đề ly hôn. Theo đó, bạn và chồng bạn cần chuẩn bị những loại giấy tờ sau:

Hồ sơ ly hôn:

-Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

-Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

-Bảo sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau:

"Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn."

Về thẩm quyền theo cấp: Khoản 2 Điều 35 BLTTDS quy định:

"2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:
b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều 29 của Bộ luật này. "

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Khoản 2 Điều 39 BLTTDS quy định:

"2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;"

Như vậy, lúc này, bạn và chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc sẽ nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi chồng bạn hiện đang cư trú, làm việc

Về vấn đề bạn vắng mặt khi Tòa án giải quyết ly hôn:

Theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì:

“Điều 227. Xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:
1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa.
3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này."

Như vậy, ngoài những giấy tờ cần có trong việc ly hôn như trên, bạn cần phải có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt để Tòa án tiến hành giải quyết.

Thời gian giải quyết ly hôn thuận tình khoảng 1 đến 2 tháng.

Những điều cần lưu ý: Án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp ly hôn thuận tình này là 300.000 đồng. Và trong đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn này cần phải có chữ ký của cả hai bên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Côn ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?