1. Không tố giác tội phạm được quy định như thế nào theo Bộ luật Hình sự hiện hành?

- Cơ sở pháp lý: Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Thứ nhất, theo Khoản 1 của điều luật đã mô tả dấu hiệu của hành vi không tố giác tội phạm.
Hành vi không tổ giác tội phạm được thực hiện bằng hình thức không hành động, lỗi của người có hành vi không tố giác tội phạm là cố ý trực tiếp, họ không muốn tố giác. Họ biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện nhưng không thực hiện nghĩa vụ tố giác sự việc với các cơ quan có thẩm quyền, có trách nhiệm như cơ quan Điều tra hay Viện kiểm sát... Do tính nguy hiểm của hành vi không bị tố giác khác nhau nên hành vi không tổ giác cũng có tính nguy hiểm khác nhau. Vì vậy, không phải hành vi không tố giác tội phạm nào cũng cấu thành tội không tố giác tội phạm. Hành vi không tố giác tội phạm chỉ cấu thành tội không tố giác tội phạm khi không tố giác những tội nhất định được quy định trng Bộ luật hình sự.
Thứ hai, theo khoản 2 này của Điều luật đã xác định phạm vi những người không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm giống như trong trường họp che giấu tội phạm, gồm có: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên pháp luật cũng loại trừ quy định là trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
thứ ba, Theo khoản 3 của Điều luật đã xác định chủ thể thứ hai không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm đó chính là người bào chữa cho người phạm tội. Theo quy định tại Khoản này người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.
Tuy nhiên đối với trường hợp người bào chữa không tố giác tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác thì người không tố giác là người bào chữa vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2. Che giấu tội phạm là gì? Che giấu tội phạm có giống không tố giác tội phạm hay không?

a. Che giấu tội phạm được quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

>> Xem thêm:  Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?

Điều 18. Che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Theo quy định của điều luật trên thì hành vi che giấu tội phạm có một số đặc điểm như sau:

– Được thực hiện sau khi tội phạm đã kết thúc;

– Giữa người có hành vi che giấu và người được che giấu không có sự hứa hẹn, thỏa thuận trước;

– Hành vi che dấu tội phạm luôn được thực hiện dưới hình thức “hành động phạm tội”;

– Lỗi của người có hành vi che giấu là lỗi cố ý trực tiếp.

Như vậy tuy có liên quan đến tội phạm nhưng hành vi che giấu tội phạm không phải là hành vi đồng phạm, bởi người che giấu và người được che giấu không “cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Hành vi che giấu không đóng vai trò là nguyên nhân gây ra hậu quả của tội phạm vì nó luôn xảy ra sau khi tội phạm do người khác đã thực hiện xong.

Hành vi che giấu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi nó cản trở hoặc gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội và ở một chừng mực nhất định nó còn khuyến khích người phạm tội thực hiện tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường các chuẩn mực của xã hội, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ công dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm của người có hành vi che giấu.

Do có tính nguy hiểm cho xã hội, nên người có hành vi che giấu tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm khi che giấu một trong các tội được quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

b. Không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Đối với không tố giác tội phạm được quy định tại mộ Điều riêng biệt so với điều 18. Che giấu tội phạm. Không tố giác tội phạm bao gồm có 3 khoản được quy định như trên.

>> Xem thêm:  Tình hình tội phạm là gì ? Đặc điểm, ý nghĩa khi nghiên cứu tình hình tội phạm

- Thứ nhất, theo Khoản 1 của điều luật đã mô tả về dấu hiệu của hành vi không tố giác tội phạm nó được biểu hiện như thế nào?
Hành vi không tổ giác tội phạm được thực hiện bằng dấu hiệu không hành động của người không tố giác, lỗi của người này có hành vi không tố giác tội phạm là cố ý trực tiếp, họ không muốn tố giác. Họ biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện nhưng không thực hiện nghĩa vụ tố giác sự việc với các cơ quan có thẩm quyền, có trách nhiệm như cơ quan Điều tra hay Viện kiểm sát... Do tính nguy hiểm của hành vi không bị tố giác khác nhau nên hành vi không tổ giác cũng có tính nguy hiểm khác nhau. Vì vậy, không phải hành vi không tố giác tội phạm nào cũng cấu thành tội không tố giác tội phạm. Hành vi không tố giác tội phạm chỉ cấu thành tội không tố giác tội phạm khi không tố giác những tội nhất định được quy định trng Bộ luật hình sự.
Thứ hai, theo khoản 2 này của Điều luật đã xác định phạm vi những người không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm giống như trong trường hợp che giấu tội phạm được quy định tại Điều 18, gồm có: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên pháp luật cũng loại trừ quy định là trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ ba, Theo khoản 3 của Điều luật đã xác định chủ thể thứ hai không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm đó chính là người bào chữa cho người phạm tội. Theo quy định tại Khoản này người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.
Tuy nhiên đối với trường hợp người bào chữa không tố giác tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác thì người không tố giác là người bào chữa vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
=> Như vậy, che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm là hai trường hợp hoàn toàn khác nhau và sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự là khác nhau theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành.

3. Trách nhiệm hình sự của tội che giấu tội phạm

- Thứ nhất, Che giấu tội phạm được quy được quy định như sau:

Điều 18. Che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Khi che giấu tội phạm thuộc vào các trường hợp được quy định trên thì những chủ thể này sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 389 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cụ thể như sau:

Điều 389. Tội che giấu tội phạm

1.399 Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây của Bộ luật này, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Các điều 108, 109, 110, 111, 1 12, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120 và 121;

b) Điều 123, các khoản 2, 3 và 4 Điều 141, Điều 142, Điều 144, khoản 2 và khoản 3 Điều 146, các khoản 1, 2 và 3 Điều 150, các điều 151, 152, 153 và 154;

c) Điều 168, Điều 169, các khoản 2, 3 và 4 Điều 173, các khoản 2, 3 và 4 Điều 174, các khoản 2, 3 và 4 Điều 175, các khoản 2, 3 và 4 Điều 178;

d) Khoản 3 và khoản 4 Điều 188, khoản 3 Điều 189, khoản 2 và khoản 3 Điều 190, khoản 2 và khoản 3 Điều 191, khoản 2 và khoản 3 Điều 192, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 193, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 194, các khoản 2, 3 và 4 Điều 195, khoản 2 và khoản 3 Điều 196, khoản 3 Điều 205, các khoản 2, 3 và 4 Điều 206, Điều 207, Điều 208, khoản 2 và khoản 3 Điều 219, khoản 2 và khoản 3 Điều 220, khoản 2 và khoản 3 Điều 221, khoản 2 và khoản 3 Điều 222, khoản 2 và khoản 3 Điều 223, khoản 2 và khoản 3 Điều 224;

đ) Khoản 2 và khoản 3 Điều 243;

e) Các điều 248, 249, 250, 251, 252 và 253, khoản 2 Điều 254, các điều 255, 256, 257 và 258, khoản 2 Điều 259;

g) Các khoản 2, 3 và 4 Điều 265, các điều 282, 299, 301, 302, 303 và 304, các khoản 2, 3 và 4 Điều 305, các khoản 2, 3 và 4 Điều 309, các khoản 2, 3 và 4 Điều 311, khoản 2 và khoản 3 Điều 329;

h) Các khoản 2, 3 và 4 Điều 353, các khoản 2, 3 và 4 Điều 354, các khoản 2, 3 và 4 Điều 355, khoản 2 và khoản 3 Điều 356, các khoản 2, 3 và 4 Điều 357, các khoản 2, 3 và 4 Điều 358, các khoản 2, 3 và 4 Điều 359, các khoản 2, 3 và 4 Điều 364, các khoản 2, 3 và 4 Điều 365;

i) Khoản 3 và khoản 4 Điều 373, khoản 3 và khoản 4 Điều 374, khoản 2 Điều 386;

k) Các điều 421, 422, 423, 424 và 425.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Tại điều 389 tùy vào từng trường hợp và từng đối tượng mà người che dấu sẽ phải chịu những hình phạt khác nhau.

>> Xem thêm:  Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học là gì ? Cho ví dụ ?

4. Trách nhiệm hình sự của tội không tố giác tội phạm

Thứ nhất, không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Không tố giác tội phạm theo Điều luật này bao gồm có 3 khoản đã được quy định:

- Thứ nhất, theo Khoản 1 của điều luật đã mô tả về dấu hiệu của hành vi không tố giác tội phạm.
Thứ hai, theo khoản 2 này của Điều luật đã xác định phạm vi những người không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm giống như trong trường hợp che giấu tội phạm được quy định tại Điều 18, gồm có: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên pháp luật cũng loại trừ quy định là trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ ba, Theo khoản 3 của Điều luật đã xác định chủ thể thứ hai không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong trường hợp nhất định đó chính là người bào chữa cho người phạm tội.
Tuy nhiên đối với trường hợp người bào chữa không tố giác tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác thì người không tố giác là người bào chữa vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, Trách nhiệm hình sự của không tố giác tội phạm đợc quy định như sau:

Điều 390. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Như vậy, căn cứ vào điều luật này, người không tố giác tội phạm sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (Theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

>> Xem thêm:  Các chủ thể phòng ngừa tội phạm là ai ? Xã hội hóa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trường hợp người không tố giác đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt theo quy định của Bộ luật này, văn bản pháp luật khác có liên quan.

5. Các yếu tố cấu thành tội không tố giác tội phạm

Không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 19. Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Vậy không tố giác tội phạm, được hiểu là hành vi không báo cho cơ quan có thẩm quyền về một trong các tội phạm được Bộ luật Hình sự quy định (tại Điều 389) mà mình biết rõ là đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện.

Theo Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

Điều 390. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Tội không tố giác tội phạm là người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Tội không tố giác gồm những yếu tố cấu thnahf sau:

Thứ nhất, mặt khách quan

Có hành vi (không hành động) không báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc một tội phạm đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện xong mà mình biết rõ. Có thể là

>> Xem thêm:  Tội phạm học là gì ? Đối tượng nghiên cứu, đặc điểm cơ bản của tội phạm học

– Tội phạm đang chuẩn bị: Là trường hợp người phạm tội đang tiến hành tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm.

– Tội phạm đang thực hiện hành vi phạm tội: Là trường hợp người phạm tội đang thực hiện các hành vi phạm tội mà chưa hoàn thành tội phạm đó (tức tội phạm đã hoàn thành).

– Tội phạm đã được thực hiện là trường hợp người phạm tội đã thực hiện xong những hành vi cấu thành của một tội phạm cụ thể.

Thứ hai, về mặt khách thể

Khách thể của tội này là hành vi không tố giác tội phạm xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội.

Thứ ba, về mặt chủ quan

Mặt chủ quan chúng ta quan tâm đến yếu tố lỗi của người phạm tội. Mà người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Theo Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015 hiện hành quy định như sau:

Điều 10. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Thứ tư, về mặt chủ thể thực hiện tội phạm

Theo Điều luật quy định, chủ thể của tội phạm này là bất kỳ ai, bất kỳ người nào mà có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

>> Xem thêm:  Nguyên nhân của tội phạm là gì ? Cách phân loại, phân tích các nguyên nhân của tội phạm

>> Xem thêm:  Phân biệt phòng ngừa tội phạm và đấu tranh chống tội phạm, kiểm soát tội phạm ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về che giấu tội phạm?

Trả lời:

Điều 18. Che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Câu hỏi: Không tố giác tội phạm theo Bộ luật hiện hành?

Trả lời:

Điều 19. Không tố giác tội phạm8

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Câu hỏi: Ông bà không tố giác cháu phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 19 Bộ luật hình sự quy định như sau: 

"2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."

=> Vậy Ông bà không tố giác cháu phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.