Khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.
Khoản 1 Điều 19 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì phải chịu trách nhiệm về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này”.
Hành vi không tố giác tội phạm không phải là hành vi đồng phạm và cấu thành nên một tội phạm độc lập được quy định tại Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015; và nó chứa đựng những đặc điểm thể hiện sự khác biệt với hành vi đồng phạm trên một số khía cạnh sau:
+ Thứ nhất, hành vi không tố giác tội phạm không có sự hứa hẹn trước với người thực hiện tội phạm và hành vi không tố giác tội phạm luôn được thực hiện dưới hình thức không hành động, người phạm tội không làm một việc mà pháp luật yêu cầu buộc phải làm. Đây là điểm khác biệt cơ bản với hành vi đồng phạm.
+ Thứ hai, không tố giác tội phạm là hành vi của người dù biết rõ là tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, sự biết rõ ở đây cũng chỉ là sự biết rõ về mặt hình thức bên ngoài, chứ không biết được động cơ, mục đích của tội phạm mà người phạm tội hướng tới.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết như sau:
1. Đồng phạm là gì?
Có thể nói, đồng phạm là thuật ngữ được nhắc đến tương đối nhiều trong các văn bản pháp luật cũng như thực tiễn điều tra, xét xử. Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Theo đó, người đồng phạm bao gồm:
- Người tổ chức: Là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Lưu ý rằng, không phải mọi vụ án đồng phạm đều có người tổ chức. Người giữ vai trò là người tổ chức sẽ thường xuất hiện trong các vụ án phạm tội có tổ chức.
- Người thực hành: Là người trực tiếp thực hiện tội phạm, hành vi đó là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả. Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiện tội phạm bởi họ là người trực tiếp thực hiện phạm tội. Dù đồng phạm giản đơn hay phạm tội có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành.
- Người xúi giục: Là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Hành vi xúi giục thực hiện trước khi người thực hành thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hành vi xúi giục phải cụ thể nhằm vào tội phạm cụ thể và người phạm tội cụ thể. Trường hợp hành vi đó chỉ là lời nói có tính chất thông báo, gợi ý chung chung không cụ thể thì không thể coi là người xúi giục.
- Người giúp sức: Là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Hành vi của người giúp sức được thể hiện như sau:
+ Cung cấp công cụ, phương tiện, thông tin cần thiết để thực hiện tội phạm;
+ Khắc phục những trở ngại cho việc thực hiện tội phạm;
+ Hứa che giấu người phạm tội hoặc hứa tiêu thụ tài sản do tội phạm mà có...
+ Hành vi này không trực tiếp gây thiệt hại cho khách thể mà chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm.
Trong đó, một vụ án đồng phạm không phải lúc nào cũng có đủ 04 loại người đồng phạm nêu trên, một người có thể đóng nhiều vai trò đồng phạm.
2. Tội không tố giác tội phạm là gì?
Hiện nay, mặc dù không có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về khái niệm hay định nghĩa của hành vi “không tố giác tội phạm”, tuy nhiên căn cứ theo quy định tại Điều 19 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự 2015, và quy định về khái niệm của “tố giác về tội phạm” được quy định tại Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì có thể hiểu về hành vi không tố giác tội phạm như sau:
Không tố giác tội phạm là việc biết mà không báo, phát hiện hành vi phạm tội mà coi như không biết, im lặng, không trình báo cho cơ quan chức năng được biết để xử lý. Việc phát hiện tội phạm có thể diễn ra khi người phạm tội đang trong quá trình chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội hoặc trong khi hành vi phạm tội đang được thực hiện hoặc đã thực hiện xong.
Bên cạnh đó, người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.
>> Xem thêm: Phân biệt khái niệm đồng phạm với khái niệm che dấu tội phạm, không tố giác tội phạm
3. Phân biệt đồng phạm với tội không tố giác tội phạm
3.1 sự giống nhau:
Đồng phạm và tội không tố giác tội phạm đều được coi là hành vi xâm phạm tới hoạt động tư pháp của cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, chủ thể thực hiện của các hành vi này đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017).
3.2 sự khác nhau:
| Tiêu chí | Đồng phạm | Tội không tố giác tội phạm |
| Căn cứ pháp lý | - Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). | - Điều 19 và Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). |
| Hành vi cụ thể | - Tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện tội phạm thông qua các hành vi: + Hành vi tổ chức: là việc khởi xướng, lập ra kế hoạch, đường lối, tập hợp, lôi kéo và phân công các thành viên thực hiện tội phạm; + Hành vi xúi giục: tác động lên nhận thức hoặc ý chí của người khác nhằm tìm mọi cách để tội phạm được thực hiện; + Hành vi thực hành: trực tiếp thực hiện các hành vi khách quan của tội phạm; + Hành vi giúp sức là người hỗ trợ tích cực, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tội phạm được diễn ra, biểu hiện. | - Không tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện tội phạm nhưng không tố giác hành vi phạm tội tới cơ quan có thẩm quyền khi biết rõ hành vi phạm tội sẽ, đã và đang xảy ra; - Hành vi không tố giác tội phạm không có sự hứa hẹn trước với người thực hiện tội phạm; - Hành vi không tố giác tội phạm luôn được thực hiện dưới hình thức không hành động, tức là không làm một việc mà pháp luật yêu cầu buộc phải làm. Đây là điểm khác biệt cơ bản với hành vi đồng phạm.
|
| Chủ thể thực hiện | - Chủ thể được xác định là đồng phạm có thể là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và tham gia vào quá trình thực hiện tội phạm thông qua các hành vi tổ chức, xúi giục, thực hành và giúp sức. | - Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. - Tuy nhiên, những đối tượng sau đây không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội. Nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nếu người phạm tội đã phạm vào các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng (tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015). |
| Ví dụ thực tiễn | A, B, C cùng thực hiện một vụ trộm cắp tài sản. Trong đó, A là người đề ra kế hoạch đồng thời chỉ huy những người còn lại thực hiện hành vi phạm tội. B, C là những người trực tiếp trộm cắp tài sản. Khi đó có thể xác định đây là vụ án hình sự có đồng phạm với A là giữ vai trò là người tổ chức; B, C giữ vai trò là là người thực hành. Trường hợp A chuẩn bị phương tiện phạm tội (dao, đồ cậy khóa cửa…) thì A còn giữ thêm vai trò là người giúp sức. | Trong một lần nói chuyện A đã được B nói rằng, B sẽ vào nhà C để ăn trộm vào đêm mai (A biết chắc chắn B sẽ thực hiện hành vi phạm tội và trước đó B cũng đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong án phạt tù, nhưng do dịch bệnh không đi làm đâu được, gia đình và bạn bè xa lánh cho nên B không có thu nhập và muốn trở lại con đường cũ). Nhưng A đã không thông báo sự việc này cho cơ quan có thẩm quyền về hành động sắp diễn ra của B và hậu quả là B. vào nhà của C để trộm cắp tài sản. Như vậy trong tình huống này A đã biết rõ về hành vi chuẩn bị phạm tội của B và chắc chắn hành vi này sẽ được thực hiện nhưng lại không báo với cơ quan có thẩm quyền do đó trường hợp này A được coi là không tố giác tội phạm. |
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về chủ đề Phân biệt đồng phạm với tội không tố giác tội phạm Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015 ? và một số nội dung khác có liên quan. Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua Email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê./.