Câu hỏi: Chào công ty Luật Minh Khuê tôi có 1 vấn đề sau muốn công ty giải đáp giúp tôi như sau. 

Anh A ở làng tôi năm nay đã trên 18 tuổi hành vi giao cấu với cháu họ tôi là B năm nay sinh năm 2006. Tính đến thời điểm hiện tại thì cháu B chưa đủ 16 tuổi. Theo như tôi tìm hiểu thì :

Theo điểm d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi làm nạn nhân có thai phải chịu mức hình phạt là phạt tù từ 3 năm - 10 năm.

Đối tượng A đã có tiền án, tiền sự về tội cướp giật tài sản. Đối tượng này sau khi làm cháu B có thai thì không bị cơ quan chức năng nào can thiệp, lập biên bản, thâm chí còn được 02 bên gia đình ủng hộ cụ thể là gia đình đối tượng Tùng đã có lễ dạm ngõ theo phong tục và được gia đình cháu B đồng ý. Với tư cách là một người anh em họ hàng tôi rất bức xúc về việc này. Vậy luật sư cho tôi hỏi: Hành vi không tố giác tội phạm, thậm chí còn tổ chức dạm ngõ của 02 gia đình có được coi là hành vi vi phạm pháp luật hay không? Xin cảm ơn ! Mong nhận được phản hồi sớm từ công ty.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Nội dung phân tích

1. Không tố giác tội phạm có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

>> Xem thêm:  Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là gì ? Cho ví dụ về độ tuổi chịu TNHS ?

1.1 Quy định pháp luật về không tố giác tội phạm

Theo quy định tại điều 19 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau

- Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

- Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Có thể thấy theo quy định tại điều 19 thì người không tố giác là ông, bà cha mẹ, con , cháu anh chị em ruột , vợ hoặc chồng của người phạm tội và người bào chữa sẽ không phải chịu trách nhiệm hính sự về khoản 1 của điêu 19 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên trừ các trường hợp những người này không tố giác tội quy định tại chương XIII về các tội xâm phạm an ninh quốc gia từ điều 108 đến điều 121 : điều 108 ( tội phản bội tổ quốc ), điều 109 ( tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền), điều 110 ( tội gián điệp),...

Điều 108: Tội phản bội tổ quốc

1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Điều 110: Tội gián điệp

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;

c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này.

Ngoài các tội tại phần XIII của Bộ luật hình sự ra thì những người thân của người phạm tội không tố giác các tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác , trong đó thì tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được hiểu như sau

1.2 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là gì?

Tại điểm d khoản 1 điều 9 của Bộ luật hính sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về phân loại tội phạm như sau:

- Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

+ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

+ Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

+  Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

+ Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Còn đối với người không tố giác là luật sư cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

2. Tội không tố giác tội phạm theo quy định pháp luật

Theo quy định tại điều 390 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau

>> Xem thêm:  Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm ?

-  Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội
.....

2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.”.

- Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”

Như vậy trong trường hợp của bạn nếu đối tượng A thực hiện hành vi phạm tội, nạn nhân là B ở đây chưa đủ 16 tuổi nếu việc giao cấu là tự nguyện thì hành vi của A vẫn có thể cấu thành tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra hậu quả làm nạn  nhân có thai là dấu hiệu định khung tăng năng cho hành vi phạm tội của đối tượng A.

Tuy nhiên, hành vi phạm tội trong tình huống nêu trên không thuộc các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại theo quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

3. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

Theo quy định tại điều 155 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về  Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

- Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại  khoản 1 các điều 134, 135, 136. 138, 139. 141, 143, 155, 156, và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

- Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

- Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

>> Xem thêm:  Nợ tiền bao nhiêu bị truy cứu trách nhiệm hình sự ? Khi nào nên khởi kiện đòi nợ

Do đó, khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải xác minh, khởi tố vụ án hình sự hoặc kiến nghị khởi tố vụ án hình sự

Như vậy, hành vi không tố giác tội phạm của những người là ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em ruột, vợ của đối tượng A không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với hành vi không tố giác tội phạm của những người là ông, bà, cha, mẹ, cháu, anh, chị, em ruột của nạn nhân B và những người biết rõ tội phạm tại thời điểm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội không tố giác tội phạm. Ngoài ra, hành vi của những người thuộc gia đình nạn nhân B có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức tảo hôn cho người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP xử phạt hành chính lĩnh vực hôn nhân gia đình.

"Điều 58. Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định mới 2022