Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, cho tôi hỏi về kinh nghiệm về pháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong khung pháp luật quốc gia quy định ở đâu và quy định như thế nào ạ?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Mở đầu vấn đề khung pháp luật quốc gia

Khung pháp lý quốc gia điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm hai luật chính là Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2014, sau đó là các luật cụ thể theo từng lĩnh vực mà đầu tư nước ngoài được thực hiện. Trong thời gian hơn 30 năm kể từ năm 1987 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành ba Luật Đầu tư và Luật Đầu tư năm 2014 đang có hiệu lực đã đơn giản hóa nhiều thủ tục liên quan đến đăng ký đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài và tập trung hơn vào việc bảo hộ đầu tư.

 

2. Các phương thức nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam

Theo Luật Đầu tư năm 2014, một nhà đầu tư nước ngoài có thể vào thị trường Việt Nam bằng nhiều cách, bao gồm:

- Đầu tư vào tổ chức kinh tế: (i) Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốh đầu tư nưóc ngoài; (ii) Hoặc thành lập, góp vốn vào tổ chức kinh tế có sự hợp tác giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong nưốc;

- Đầu tư theo hợp đồng PPP;

- Đầu tư phát triển kinh doanh: đầu tư phát triển kinh doanh là một hình thức đầu tư theo đó các nhà đầu tư bỏ vốn để mỏ rộng quy mô hoặc nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh, như thành lập chi nhánh, ván phòng đại diện, đơn vị trực thuộc, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm ô nhiễm môi trường;

- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp.

Điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng khi thực hiện hoạt động đầu tư trong những ngành, nghề đầu tư có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định, điều ước quốc tế về đầu tư. Điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng đối với hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế;

- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong tổ chức kinh tế;

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh;

- Nhận chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc các trường hợp tiếp nhận dự án đầu tư khác;

- Sửa đổi, bổ sung ngành, nghề đầu tư kinh doanh của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

 

3. Ngành nghề bị cấm trong đầu tư kinh doanh

Cơ sở pháp lý: Điều 6 Luật đầu tư năm 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP

Nhà đầu tư nước ngoài được phép thực hiệp đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà luật không cấm. Theo Điều 6 của Luật Đầu tư năm 2014 có 07 nhóm ngành nghề bị cấm kinh doanh, bao gồm: a) Kinh doanh các chất ma túy, b) Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật, c) Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã, d) Kinh doanh mại dâm; đ) Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; e) Hoạt động kinh doanh hên quan đến sinh sản vô tính trên người và g) Kinh doanh pháo nổ. Theo Phụ lục 4 của Luật này, có tất cả 243 lĩnh vực mà đầu tư nước ngoài phải tuân theo các điều kiện hoặc hạn chế nhất định (ví dụ: sản xuất con dấu, kinh doanh dịch vụ kế toán, kinh doanh dịch vụ kiểm toán, hoạt động dịch vụ của tổ chức trọng tài thương mại, hành nghề luật sư, hành nghề thừa phát lại...).

Theo Điều 8 Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định về thực hiện quy định về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh như sau:

- Tổ chức, cá nhân không được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Điều 6 và các Phụ lục 1, 2 và 3 Luật Đầu tư.

- Việc sản xuất, sử dụng sản phẩm quy định tại các Phụ lục 1, 2 và 3 của Luật Đầu tư trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, điều tra tội phạm, bảo vệ quốc phòng, an ninh thực hiện như sau:

+ Các chất ma túy quy định tại Phụ lục 1 của Luật Đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sản xuất, sử dụng theo quy định của Chính phủ về danh mục chất ma túy, tiền chất và Công ước thống nhất về chống ma túy năm 1961, Công ước Liên hợp quốc năm 1988 về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần;

+ Các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục 2 của Luật Đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sản xuất, sử dụng theo quy định của Chính phủ về quản lý hóa chất thuộc diện kiểm soát của Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học và các văn bản hướng dẫn Công ước Rotterdam về thủ tục thỏa thuận có thông báo trước đối với một số hóa chất nguy hại và thuốc bảo vệ thực vật trong buôn bán quốc tế;

+ Mẫu các loài thực vật, động vật hoang dã quy định tại Phụ lục 3 của Luật Đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép khai thác theo quy định của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES).

Tại Điều 10 Nghị định 118/2015/NĐ-CP có quy định về việc thực hiện quy định về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài như sau:

- Điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Khoản 6 Điều 2 Nghị định này gồm:

+ Điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế;

+ Điều kiện về hình thức đầu tư;

+ Điều kiện về phạm vi hoạt động đầu tư;

+ Điều kiện về đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;

+ Điều kiện khác theo quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư.

- Nguyên tắc áp dụng điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài:

+ Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư thuộc các ngành, nghề khác nhau phải đáp ứng toàn bộ điều kiện đầu tư đối với các ngành, nghề đó;

+ Nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế về đầu tư có quy định khác nhau về điều kiện đầu tư được lựa chọn áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước đó; trường hợp đã lựa chọn một điều ước quốc tế thì nhà đầu tư nước ngoài thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của điều ước quốc tế đó;

+ Đối với những ngành, phân ngành dịch vụ chưa cam kết hoặc không được quy định tại Biểu cam kết của Việt Nam trong WTO và điều ước quốc tế về đầu tư khác mà pháp luật Việt Nam đã có quy định về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài thì áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam;

+ Nhà đầu tư nước ngoài thuộc vùng lãnh thổ không phải là thành viên WTO thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam được áp dụng điều kiện đầu tư như quy định đối với nhà đầu tư thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ là thành viên WTO, trừ trường hợp pháp luật và điều ước quốc tế giữa Việt Nam và quốc gia, vùng lãnh thổ đó có quy định khác;

+ Đối với những ngành, phân ngành dịch vụ chưa cam kết hoặc không được quy định tại Biểu cam kết của Việt Nam trong WTO và điều ước quốc tế về đầu tư khác mà pháp luật Việt Nam chưa có quy định về điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài, Cơ quan đăng ký đầu tư lấy ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ quản lý ngành để xem xét, quyết định;

+ Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đã được phép thực hiện hoạt động đầu tư trong các ngành, phân ngành dịch vụ quy định tại Điểm đ Khoản này và các ngành, phân ngành dịch vụ này đã được công bố trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài theo quy định tại Điều 13 Nghị định này, Cơ quan đăng ký đầu tư xem xét, quyết định hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trong cùng ngành, nghề đó mà không phải lấy ý kiến của Bộ quản lý ngành.

 

4. Nguyên tắc

Về nguyên tắc, nhà đầu tư nước ngoài thành lập công ty mói tại Việt Nam vẫn phải đáp ứng các yêu cầu phê duyệt và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong khi các khoản đầu tư nước ngoài được thực hiện qua hình thức góp vốn hoặc mua cổ phần tại các công ty đã thành lập trước đó có ít yêu cầu hơn. Luật Đầu tư nám 2014 quy định đôi với các dự án nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp vốh 51% vốn điều lệ mới phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài từ sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh. Đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn lại (có nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ dưới 51% vốn điều lệ) thì sẽ được đối xử như dự án đầu tư trong nước và không cần phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Ngoài ra, tất cả các thông tin chính về các dự án đầu tư được đăng ký, bao gồm cả đầu tư nước ngoài, có thể được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu điện tử do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý. Đây là một bước mồ lớn của Luật Đầu tư năm 2014 nhằm góp phần thu hút, khuyến khích đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.

 

5. Khoản đầu tư nước ngoài được hưởng sự bảo đảm tương tự như các khoản đầu tư trong nước

Các khoản đầu tư nước ngoài được hưởng sự bảo đảm tương tự như các khoản đầu tư trong nước, như bảo vệ tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Điều 9 Luật Đầu tư năm 2014 quy định:

“1. Tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Về quyền chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài, Điều 11 Luật Đầu tư năm 2014 quy định:

“Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài sản sau đây:

Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;

Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh;

Tiền và tài sản khác thuộc sỏ hữu hợp pháp của nhà đầu tử’.

Như vậy, Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhằm giải quyết những thiếu sót trong các luật đã ban hành từ trước và cải thiện môi trường đầu tư trong nước.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).