1. Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế

1.1 Thẩm quyền đối với các quốc gia

Về nguyên tắc, tất cả các quốc gia đều có thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế. Đây chính là loại quyền năng chủ thể luật quốc tế của quốc gia. Trên thực tế, quốc gia có thể từ chối một phần, toàn bộ hoặc chuyển cho quốc gia hay tổ chức quốc tế khác thực hiện thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế. Đối với nhiều điều ước quốc tế có ghi nhận rõ những loại quốc gia và tổ chức quốc tế nào có thể là thành viên của điều ước đó. Điển hình là Công ước luật biển năm 1982, tại Điều 305 có liệt kê một danh mục các thực thể có thể tham gia Công ước, cụ thể:

- Tất cả các quốc gia.

- Nước Nammibia do Hội đồng của Liên hợp quốc về Nammibia đại diện.

- Tất cả các quốc gia liên kết tự tri đã chọn chế độ này qua hành động tự quyết do Liên hợp quốc giám sát và phê chuẩn theo Nghị quyết 1514 của Đại hội đồng và có thẩm quyền đối với các vấn đề mà Công ước đề cập, kể cả thẩm quyền ký các hiệp ước về vấn đề đó.

- Tất cả các quốc gia liên kết tự trị mà theo các văn bản liên kết có thẩm quyền đối với các vấn đề mà Công ước đề cập, kể cả thẩm quyền ký các hiệp ước về vấh đề đó.

- Tất câ các lãnh thổ có quyền tự trị hoàn toàn về nội trị được Liên hợp quốc thừa nhận nhưng chưa giành được nền độc lập hoàn toàn phù hợp với Nghị quyết 1514 của Đại hội đồng và có thẩm quyền đối với các vấn đề mà Công ước đề cập, kể cả thẩm quyền ký các hiệp ước vê vấn đề đó.

- Các tổ chức quốc tế theo đứng Phụ lục IX.

Trong hầu hết các trường hợp, các quốc gia đều trực tiếp thực hiện thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế. Tuy nhiên, pháp luật của một số quốc gia cũng như thoả thuận giữa các quốc gia là cơ sở để xuất hiện một số trường hợp thực hiện thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế tương đối đặc biệt:

Trường hợp thứ nhất: Quốc gia đại diện cho quốc gia khác

>> Xem thêm:  Phân tích nội dung, ưu điểm, nhược điểm và thực tiễn áp dụng một biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế ?

Trường hợp này xuất hiện khi có một thoả thuận giữa các quốc gia cho phép một quốc gia có thể đại diện cho một hoặc nhiều quốc gia khác trong những lĩnh vực cụ thể của quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ ký kết cạc diều ước quốc tế nói riêng. Ví dụ, Hiệp ước về liên minh thuế quan giữa Thụy Sỹ và Liechtenstein ngày 29/3/1923 ghi nhận Thụy Sỹ sẽ ký kết các điều ước quốc tế nhân danh Liechtenstein. Tương tự là các - trường hợp của Mỹ đối với Puerto Rico, Pháp đối với Andorra...

Trường hợp thứ hai: Quốc gia và tổ chức quốc tế liên chính phủ.

Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế cũng có thể được quốc gia uỷ quyền cho một tổ chức quốc tế - đại diện cho quyền lợi của quốc gia ủy quyền trong quan hệ quốc tế. Sự uỷ quyền này phải được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp lý quốc tế cụ thể. Hiệp ước thành lập cộng đồng châu Âu có ghi nhận, trong một sô' trường hợp nhất định, cộng đồng châu Âu có thể đại diện cho các quốc gia thành viên hoặc là một bên tham gia điều ước quốc tế. Ví dụ, Công ước về trợ cấp lương thực 1999 quy định:

"Công ước sẽ phát sinh hiệu lực vào ngày 11711999 giữa những chính phủ và tổ chức quốc tế liên chính phủ mà đến 301611999 đã nộp lưu chiểu các văn kiện phê chuẩn, chấp nhặn, phê duyệt, gia nhập hoặc áp dụng tạm thời Công ước bao gồm cả cộng đồng châu Âu".

2.2 Thẩm quyền đối với các tổ chức quốc tế

Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế của tổ chức quốc tế xuất phát từ quyền năng chủ thể luật quốc tế của các tổ chức quốc tế và thường được ghi nhận ttong Hiến chương và các văn bản pháp lý khác của tổ chức quốc tế. Tổ chức quốc tế có thể ký kết các điều ước quốc tế với các quốc gia, kể cả quốc gia thành viên như các điều ước quốc tế về thuê trụ sở của tổ chức, các điều ước Hên quan đến các khoản vay tín dụng mà các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các quốc gia... Tổ chức quốc tê' cũng có thể ký kết các điều ước quốc tê' với các tổ chức quốc tế khác như Cấc hiệp định chuyên môn được ký kết giữa Liên hợp quốc với Tổ chức lao động quốc tế, với Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế... Tuy nhiên, do tính chất quyền năng chủ thể luật quốc tê' của tổ chức quốc tế nên thẩm quyền ký kết điều ước quốc tê' của chủ thể này không giống như thẩm quyền của các quốc gia. Vì vậy, có những loại điều ước quốc tế quy định không có sự tham gia của các tổ chức quốc tế.

Thực tiễn của hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế còn cho thấy một số thực thể như Toà thánh Vaticăng, Hổng Kông, Ma Cao... cũng tham gia ký kết một số điều ước quốc tế nhất định. Toà thánh Vaticăng tham gia ký 4 công ước Giơnevơ về bảo hộ nạn nhân chiến tranh năm 1949, ký và phê chuẩn Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia... Điều 151 Luật cơ bản của Hồng Kông và Điều 136 Luật cơ bản của Ma Cao quy định, chính quyền hành chính của hai vùng lãnh thổ này có thể tiếp tục gìn giữ và phát triển các quan hệ đối ngoại cũng như ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế với nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong những lĩnh vực thích hợp như kinh tế, tài chính, hàrig hải, viễn thông, du lịch, thể thao...

Khi ký kết điếu ước quốc tế, các chủ thể thông qua đẹi diện của mình là đại diện đương nhiên mà thông lệ quốc tế và thực tiễn pháp luật của các quốc gia đã xác định là những người không cần thư uỷ nhiệm, bao gổm:

- Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giao trong mọi hành động liên quan đến việc ký kết điều ước quốc tế.

- Người đứng đầu các cơ quan đại diện ngoại giao trong việc thông qua văn bản của một điều ước quốc tê' giữa nước cử cơ quan đại diện và nước sở tại.

- Những người thay mặt cho quốc gia mình tại một hội nghị quốc tế hoặc tại tổ chức quốc tế trong việc thông qua văn bản của một điều ước quốc tế ttong khuôn khổ cùa hôi nghị hoặc tổ chức đó.

>> Xem thêm:  Quốc thư là gì ? khái niệm quốc thư được hiểu như thế nào ?

Ngoài ra, những người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ có quyền ký kết những điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực của bộ, ngành cũng không cần thư uỷ nhiệm.

Đối với những đại diện phải có thư uỷ nhiệm để tham gia vào quá trình ký kết điều ước quốc tế thì họ phải xuất trình thư uỷ nhiệm thích hợp. Theo Điều 8 Công ước Viên năm 1969, nếu một điều ước quốc tế được ký kết hoặc thông qua bởi những người không đủ tư cách đại diện cho quốc gia mình thì điều ước đó có thể sẽ không có hiệu lực.

2. Quy định về ký kết điều ước quốc tế

Đàm phán là bước đầu tiên để đi đến hình thành một văn bản điều ước quốc tế. Đây là quá trình thương lượng, đấu tranh để đi đến thoả thuận về nội dung của điều ước quốc tế tương lai. Thông thường thì cơ sở của việc đàm phán là bản dự thảo điều ước quốc tế đã có sẵn được soạn thảo bởi một cơ quan có thẩm quyền được các bên lập ra hoặc thừa nhận trong trường hợp đối với điểu ước quốc tế đa phương (ví dụ: dự thảo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng hiện nay là do Uỷ ban đàm phán Công ước của Liên hợp quốc chuẩn bị) hoặc do một trong hai bên soạn thảo trong trường hợp đối với điều ước quốc tế song phương (như dự thảo Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực phòng chống tội phạm giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Ôtxtrâylia là do Việt Nam soạn thảo). Vì điều ước quốc tế là thoả thuận của các bên có lợi ích khác nhau, cho nên quá trình đàm phán đòi hỏi các bên tham gia phải có thiện chí, thậm chí, có sự nhượng bộ lẫn nhau rất lớn. Kí điều ước quốc tế được thực hiện sau khi đàm phán và thống nhất được về nội dung của dự thảo điều ước quốc tế, các bên sẽ bắt đầu thủ tục kí điều ước quốc tế đó. Kí là bước rất quan trọng để cho hầu hết điều ước quốc tế ra đời. Thực tiễn cho thấy có ba hình thức kí điều ước quốc tế là: kí tắt, kí đầy đủ và kí ad referendum, trong đó hình thức kí đầy đủ là phổ thông nhất. Hiện nay, ngày càng nhiều điều ước quốc tế song phương quy định là sẽ có hiệu lực ngay sau khi các bên kí đầy đủ. Một điều cần lưu ý là trong nhiều trường hợp, một quốc gia có thể rút lại việc kí của mình đối với một điều ước quốc tế, như chính quyền của Tổng thống Busơ (George W. Bush), Hoa Kì đã rút lại việc chính quyền Clintơn (Bill Clinton) tham gia Quy chế Rôma về Toà án hình sự quốc tế (ICC). Việc ký kết điều ước quốc tế do các cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật của quốc gia hữu quan tiến hành trên cơ sở phù hợp với pháp luật quốc tế. Theo Pháp lệnh về kí kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998 của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc đàm phán và kí một điều ước quốc tế phải tuân theo các thủ tục sau:

1) Điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực quản lí nhà nước của bộ, ngành nào thì bộ, ngành đó đề xuất việc đàm phán, kí và trình Chính phủ, sau khi có ý kiến bằng văn bản của Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành hữu quan;

2) Việc đàm phán và kí điều ước quếc tế về hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ quốc gia và những điều ước quốc tế có nội dung quan trọng khác do Bộ Ngoại giao hoặc các bộ, ngành chủ quản đề xuất và trình Chính phủ;

3) Trong quá trình đàm phán và kí, nếu điều ước quốc tế có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thì cơ quan đề xuất phải lấy ý kiến của các bộ, ngành hữu quan và ý kiến thẩm định bằng văn bản của Bộ Tư pháp.

Phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế là hành vi pháp lí của chủ thể luật quốc tế, xác nhận sự chấp nhận hiệu lực pháp lí của một điều ước quốc tế đã kí. Phê chuẩn, phê duyệt được áp dụng đối với cả điều ước quốc tế song phương và đa phương và thường được quy định ngay trong điều ước quốc tế liên quan như khoản 3 Điều 36 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Theo Pháp lệnh về kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc phê chuẩn là thủ tục bắt buộc đối với các điều ước quốc tế sau: điều ước quốc tế liên quan đến hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ và chủ quyền quốc gia; điều ước quốc tế về quyển, nghĩa vụ cơ bản của công dân và về tương trợ tư pháp; điều ước quốc tế về các tổ chức quốc tế phổ cập và các tổ chức khu vực quan trọng; điều ước quốc tế do các bên kí kết thoả thuận; điều ước quốc tế có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước; điều ước quốc tế liên quan đến ngân sách nhà nước theo đề nghị phê chuẩn của Chính phủ; điều ước quốc tế có điều khoản quy định về việc phê chuẩn. Chủ tịch nước quyết định phê chuẩn điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định như trường hợp phê chuẩn Hiệp định thương mại Việt - Mỹ; Hiệp định phân chia biên giới trên bộ với Trung Quốc.

Gia nhập điều ước quốc tế là hành vi pháp lí của chủ thể luật quốc tế xác nhận sự chấp nhận hiệu lực pháp lí của một điều ước quốc tế đa phương đối với chủ thể đó. Các chủ thể luật quốc tế chỉ có thể gia nhập một điều ước quốc tế nếu điều ước quốc tế đó cho phép hoặc được các thành viên của điều ước quốc tế đó thoả thuận chấp nhận với trình tự, thủ tục gia nhập được quy định ngay trong điều ước quốc tế liên quan. Trừ một số điều ước quốc tế nhất định, hầu hết các điều ước quốc tế đa phương phổ quát đều cho phép việc gia nhập. Công ước Viên năm 4961 về quan hệ ngoại giao (Điều 50), Công ƯỚC Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự (Điều 76), Công ước Palecmô về chống tội phạm có tổ chức năm 2000 (Điều 36)... đều cho phép các quốc gia hoặc các tổ chức liên kết kinh tế khu vực (với điều kiện ít nhất một quốc gia thành viên phải là thành viên của Công ước) gia nhập. Vấn đề gia nhập điều ước quốc tế cũng được quy định trong Pháp lệnh về kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005. Theo đó, điều ước quốc tế nhiều bên liên quan đến lĩnh vực thuộc bộ, ngành nào thì bộ, ngành đó đề xuất việc gia nhập. Chủ tịch nước quyết định gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên với danh nghĩa Nhà nước, điều ước quốc tế nhiều bên có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội hay Uỷ ban thường vụ Quốc hội và những điều ước quốc tế nhiều bên có quy định về việc phê chuẩn, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định. Việc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên khác do Chính phủ quyết định.

>> Xem thêm:  Nghị định thư SDR năm 1979 là gì? Tìm hiểu về nghị định thư SDR năm 1979?

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Quan sát viên là gì ? Khái niệm quan sát viên được hiểu như thế nào ?