Kí kết điều ước quốc tế là hành vi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện gồm đàm phán, kí, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập cho đến khi điểu ước quốc tế có hiệu lực.

Đàm phán là bước đầu tiên để đi đến hình thành một văn bản điều ước quốc tế. Đây là quá trình thương lượng, đấu tranh để đi đến thoả thuận về nội dung của điều ước quốc tế tương lai. Thông thường thì cơ sở của việc đàm phán là bản dự thảo điều ước quốc tế đã có sẵn được soạn thảo bởi một cơ quan có thẩm quyền được các bên lập ra hoặc thừa nhận trong trường hợp đối với điểu ước quốc tế đa phương (ví dụ: dự thảo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng hiện nay là do Uỷ ban đàm phán Công ước của Liên hợp quốc chuẩn bị) hoặc do một trong hai bên soạn thảo trong trường hợp đối với điều ước quốc tế song phương (như dự thảo Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực phòng chống tội phạm giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Ôtxtrâylia là do Việt Nam soạn thảo). Vì điều ước quốc tế là thoả thuận của các bên có lợi ích khác nhau, cho nên quá trình đàm phán đòi hỏi các bên tham gia phải có thiện chí, thậm chí, có sự nhượng bộ lẫn nhau rất lớn. Kí điều ước quốc tế được thực hiện sau khi đàm phán và thống nhất được về nội dung của dự thảo điều ước quốc tế, các bên sẽ bắt đầu thủ tục kí điều ước quốc tế đó. Kí là bước rất quan trọng để cho hầu hết điều ước quốc tế ra đời. Thực tiễn cho thấy có ba hình thức kí điều ước quốc tế là: kí tắt, kí đầy đủ và kí ad referendum, trong đó hình thức kí đầy đủ là phổ thông nhất. Hiện nay, ngày càng nhiều điều ước quốc tế song phương quy định là sẽ có hiệu lực ngay sau khi các bên kí đầy đủ. Một điều cần lưu ý là trong nhiều trường hợp, một quốc gia có thể rút lại việc kí của mình đối với một điều ước quốc tế, như chính quyền của Tổng thống Busơ (George W. Bush), Hoa Kì đã rút lại việc chính quyền Clintơn (Bill Clinton) tham gia Quy chế Rôma về Toà án hình sự quốc tế (ICC). Việc kí kết điều ước quốc tế do các cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật của quốc gia hữu quan tiến hành trên cơ sở phù hợp với pháp luật quốc tế. Theo Pháp lệnh về kí kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998 của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc đàm phán và kí một điều ước quốc tế phải tuân theo các thủ tục sau: 1) Điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực quản lí nhà nước của bộ, ngành nào thì bộ, ngành đó đề xuất việc đàm phán, kí và trình Chính phủ, sau khi có ý kiến bằng văn bản của Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành hữu quan; 2) Việc đàm phán và kí điều ước quếc tế về hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ quốc gia và những điều ước quốc tế có nội dung quan trọng khác do Bộ Ngoại giao hoặc các bộ, ngành chủ quản đề xuất và trình Chính phủ; 3) Trong quá trình đàm phán và kí, nếu điều ước quốc tế có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thì cơ quan đề xuất phải lấy ý kiến của các bộ, ngành hữu quan và ý kiến thẩm định bằng văn bản của Bộ Tư pháp.

Phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế là hành vi pháp lí của chủ thể luật quốc tế, xác nhận sự chấp nhận hiệu lực pháp lí của một điều ước quốc tế đã kí. Phê chuẩn, phê duyệt được áp dụng đối với cả điều ước quốc tế song phương và đa phương và thường được quy định ngay trong điều ước quốc tế liên quan như khoản 3 Điều 36 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Theo Pháp lệnh về kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc phê chuẩn là thủ tục bắt buộc đối với các điều ước quốc tế sau: điều ước quốc tế liên quan đến hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ và chủ quyền quốc gia; điều ước quốc tế về quyển, nghĩa vụ cơ bản của công dân và về tương trợ tư pháp; điều ước quốc tế về các tổ chức quốc tế phổ cập và các tổ chức khu vực quan trọng; điều ước quốc tế do các bên kí kết thoả thuận; điều ước quốc tế có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước; điều ước quốc tế liên quan đến ngân sách nhà nước theo đề nghị phê chuẩn của Chính phủ; điều ước quốc tế có điều khoản quy định về việc phê chuẩn. Chủ tịch nước quyết định phê chuẩn điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định như trường hợp phê chuẩn Hiệp định thương mại Việt - Mỹ; Hiệp định phân chia biên giới trên bộ với Trung Quốc.

Gia nhập điều ước quốc tế là hành vi pháp lí của chủ thể luật quốc tế xác nhận sự chấp nhận hiệu lực pháp lí của một điều ước quốc tế đa phương đối với chủ thể đó. Các chủ thể luật quốc tế chỉ có thể gia nhập một điều ước quốc tế nếu điều ước quốc tế đó cho phép hoặc được các thành viên của điều ước quốc tế đó thoả thuận chấp nhận với trình tự, thủ tục gia nhập được quy định ngay trong điều ước quốc tế liên quan. Trừ một số điều ước quốc tế nhất định, hầu hết các điều ước quốc tế đa phương phổ quát đều cho phép việc gia nhập. Công ước Viên năm 4961 về quan hệ ngoại giao (Điều 50), Công ƯỚC Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự (Điều 76), Công ước Palecmô về chống tội phạm có tổ chức năm 2000 (Điều 36)... đều cho phép các quốc gia hoặc các tổ chức liên kết kinh tế khu vực (với điều kiện ít nhất một quốc gia thành viên phải là thành viên của Công ước) gia nhập. Vấn đề gia nhập điều ước quốc tế cũng được quy định trong Pháp lệnh về kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005. Theo đó, điều ước quốc tế nhiều bên liên quan đến lĩnh vực thuộc bộ, ngành nào thì bộ, ngành đó đề xuất việc gia nhập. Chủ tịch nước quyết định gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên với danh nghĩa Nhà nước, điều ước quốc tế nhiều bên có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội hay Uỷ ban thường vụ Quốc hội và những điều ước quốc tế nhiều bên có quy định về việc phê chuẩn, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định. Việc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên khác do Chính phủ quyết định.