1. Thời trung cổ, đóng góp quan trọng nhất của văn hóa Ả Rập là việc giới thiệu lại Aristotle ở phương Tây

Năm 476 cái chết của vị hoàng đế La Mã cuối cùng mở đầu một thời kỳ suy thoái kéo dài ở phương Tây đi đôi với vận may nảy nở ở phương Đông. Trong năm thế kỷ, từ năm 700 sau CN đến năm 1200 sau CN, đạo Hồi đi đầu thế giới về quyền lực, tổ chức và quy mô chính phủ, trong cải cách xã hội và mức sống, trong tác phẩm văn học, khoa học, y học và triết học. Thế giới Ả Rập hoạt động như một loại ống dẫn sự thông thái và văn hóa Hindu sang phương Tây. Chính khoa học Hồi giáo đã duy trì và phát triển các ngành khoa học Hy Lạp: toán học, vật lý học, hóa học, thiên văn học và y học trong nửa thiên niên kỷ ấy, trong khi phương Tây đang chìm sâu vào thời kỳ mà giới sử gia gọi là Đêm trường Trung cổ. Vào năm 730 sau CN, đế quốc Hồi giáo vươn đến tận Tây Ban Nha và miền Nam Pháp, đến tận biên giới Trung Quốc và Ấn Độ, một đế quốc có sức mạnh và sự khoan dung phi thường. Có lẽ đáng kể nhất, sự cải tiến đơn độc mà các học giả Ả Rập thiết tha, tìm tòi đóng góp cho phương Tây là hệ thống chữ số. Họ thay thế cho chữ số La Mã rườm rà bằng chữ số Ả Rập tiện dụng hơn rất nhiều. Một trong những nhà toán học Ả Rập lập dị, Alhazen hình thành thuyết quang học hiện đại vào năm 1.000 sau CN. Nhưng với mục đích của chúng ta, đóng góp quan trọng nhất của văn hóa Ả Rập là việc giới thiệu lại Aristotle ở phương Tây.

 

2. Aristotle và sự chuyển đổi hai bên

Aristotle (k.384-322 tr. CN) quan tâm đến tiềm năng phân tích của việc so sánh các đánh giá thuyết Hiệu dụng. Trong các tác phẩm TopicsRhetoric của ông, ông trình bày một nghiên cứu có hệ thống về các yếu tố chọn lựa thích hợp với việc ra quyết định của nhà nước. Quan trọng nhất đốì với lý thuyết kinh tế hiện đại, Aristotle thảo luận giá trị theo nghĩa so sánh tăng dần. Tuy nhiên, sự so sánh các giá trị theo hệ thống của ông dựa trên thuyết Hiệu dụng biên tế chủ quan phát triển theo cách hoàn toàn không liên quan đến thuyết giá cả. Rất có khả năng sự phân tích chuyển đổi của Aristotle là một nỗ lực nhằm xác định tiêu chuẩn công bằng mà qua đó hình thành hệ thống pháp lý Athens. Trong bất kỳ sự kiện nào thì những cân nhắc tính công bằng chi phối những cân nhắc kinh tế trong phân tích chuyển đổi của Aristotle.

Điều quan trọng nên lưu ý là Aristotle trình bày cách phân tích sự trao đổi cô lập trái ngược với sự trao đổi thị trường. Sự khác biệt vật phụ thuộc chủ yếu để hiểu cả tiến trình lẫn kết luận của mô hình Aristotle. Các nhà kinh tế xác định sự trao đổi cô lập như là hai bên trao đổi hàng hóa chung với sự ưa thích chủ quan của chính mình mà không tham khảo bất kỳ cơ hội thị trường thay thế khác. Mặt khác, sự trao đổi thị trường, diễn ra khi các doanh nhân riêng lẻ đi đến những quyết định theo khả năng phán đoán việc kinh doanh liên tục, rộng khắp trong số nhiều người tham gia trong một thị trường thông thạo, có tổ chức. Trong sự trao đổi thị trường, giá cả được niêm yết công khai là kết quả cuối cùng của việc thực hiện công bằng quyền lợi của người bán và người mua. Trái lại, trong sự trao đổi cô lập thì không có hoạt động giá cả thị trường. Không có sự tác động lẫn nhau của nhiều người tham gia thị trường, tính công bằng của mỗi giao dịch chỉ có thể xác định bởi một bên thứ ba không vụ lợi, chẳng hạn nhự quan tòa hay trọng tài. Vả lại, phán quyết phải được đưa ra trên cơ sở từng trường hợp. Sự trao đổi cô lập là chuyện cũ rích trong kinh nghiệm của Aristotle, song ngày nay vẫn còn khá phổ biến trong các nền kinh tế tiền công nghiệp với hàng hóa không đồng dạng.

Sau khi thành Toledo, Tây Ban Nha bị người Moor tái chiếm năm 1085, các học giả châu Âu đổ xô đến thành phố này để biên dịch các tác phẩm kinh điển thời cổ đại. Văn bản cổ đại được chuyển từ tiếng Hy Lạp (châu Âu quên lãng) thông qua tiếng Ả Rập và Hebrew (Do Thái cổ) sang Latin, ở phiên bản Latin, mầm mống triết học được các nhà triết học Kinh viện trong giáo hội Trung cổ khai thác trong gần 400 năm sau.

 

3. Kinh tế học trong xã hội phong kiến

Hình thức tổ chức kinh tế thịnh hành trong thời Trung cổ là chủ nghĩa phong kiến. Đây là hệ thống sản xuất và phân phối trong đó quyền sở hữu đất đai không chuyên chế cũng như không tách khỏi nhiệm vụ, giống như ở La Mã cổ đại và phải bắt đầu trở lại trong thời hiện đại. Thay vào đó, nhà vua là kho chứa mọi quyền sở hữu tài sản hợp pháp. Vua phân bổ đất trọn gói cho các thủ lĩnh và quý tộc quan trọng, những người này đến phiên họ chia đất cho những người thuê lại. “Quyền sở hữu” ở mức độ sản xuất có nghĩa là quyền sử dụng (quyền hoa lợi), mặc dù quyền này có khuynh hướng cha truyền con nối. Quyền hoa lợi vẫn còn là đối tượng thực hiện một số’ nghĩa vụ: quân sự, cá nhân hay kinh tế.

Tài sản phong kiến cũng trở thành vị trí quyền lực chính trị trong thời Trung Cổ. Vào thời điểm này, châu Âu thiếu điều kiện tiên quyết tích hợp xã hội, kinh tế và chính trị với chính quyền trung ương vững mạnh. Do đó, mỗi lãnh chúa phong kiến được trao vô số’ chức năng chính phủ, và có quyền thực thi ngay trên lãnh thổ của mình.

Sản xuất kinh tế trong chủ nghĩa phong kiến diễn ra ở các bất động sản điền địa, thái ấp. Sản phẩm sản xuất ra trên quy mô nhỏ, sử dụng kỹ thuật nông nghiệp khá thô sơ. Lực lượng lao động là nông nô những người bị trói buộc vào ruộng đất hơn là “sở hữu” ruộng đất. Mục đích của thái ấp là tự cung tự cấp, hoạt động mua bán giữa các vùng và/hoặc giữa các nước vô cùng hạn chế. Tóm lại, khung kinh tế, xã hội của thái ấp trong nhiều khía cạnh giống với khung kinh tế, xã hội của polis, thành phố-thanh bang Hy Lạp. Nguyên tắc tổ chức mang tính địa vị, chứ không phải hợp đồng.

Hai yếu tố quan trọng khiến thời Trung Cổ khác thời Hy Lạp cổ đại là tính đồng nhất học thuyết do Giáo hội Thiên chúa giáo La Mã cung cấp, và sự lan tỏa của cơ chế thị trường. Xã hội Trung cổ có phần miễn cưỡng nuôi dưỡng hình thức phôi thai chủ nghĩa Tư bản (trong sản phẩm và nhân tố sản xuất) ngày càng bám chặt vào cơ cấu đời sống hàng ngày. Chính trên nền tảng này mà kinh tế học triết học Kinh viện phát triển.

 

4. Phân tích kinh tế triết học Kinh viện

Quyền lực và ảnh hưởng của giáo hội Thiên chúa giáo trong thời Trung Cổ phần lớn là do sự tự quản trong các vấn đề tinh thần, nhưng cũng có lý do khác. Giáo sĩ Trung cổ vẫn bảo quản nguồn sáng chiếu khắp thời Trung cổ, đó là kiến thức. Thứ bậc xã hội trong nền văn minh Trung Cổ hầu hết mang tính chất Platon trong cấu trúc. Thứ bậc hoặc thuộc về giai cấp nông dân (những người đang lao động), quân sự (những người đang chiến đấu) hay giáo sĩ (những người đang trù liệu). Chỉ riêng nhóm sau cùng nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức, và như thế, hầu hết đều có thiếu sót, giáo sĩ trở thành kho chứa và người bảo vệ cho kiến thức ấy. Vì thế, kinh tế thời Trung cổ là sản phẩm của giáo sĩ, nhất là một nhóm những tác giả có học mà ngày nay chúng ta gọi là giáo sư hay giáo viên. Chính họ là những người liên kết các mạch tư tưởng cấu thành kinh tế học thời Trung cổ: tư tưởng lượm lặt từ Aristotle và Kinh Thánh, từ luật La Mã và luật dòng.

Kinh tế học triết học Kinh viện ngày ngay không được đánh giá cao. Thông thường được nhận thức như một loạt thuyết ngụy biện không đúng chỗ về giá cả thị trường, tiền lãi và tài sản. Mặc dù hầu hết các tư tưởng triết học Kinh viện đều bật ra từ sao lục về kiến thức kinh tế, nhưng quan điểm không tán thành ấy có khuynh hướng che giấu ý nghĩa một truyền thống quan trọng trong sự tiến hóa kéo dài đầy gian nan của thuyết giá trị hiện đại.

 

5. Phương pháp triết học Kinh viện

Phương pháp của triết học Kinh viện như sau: Tác giả đặt ra một câu hỏi, tiếp đến là bình luận dài dòng, chi tiết về quan điểm phải được giải thích lại hay là từ chối. Luôn đặt nặng sự chú ý vào sức mạnh của chính quyền. Sau cùng, đưa ra một câu trả lời, trái với quan điểm đã được khảo sát tỉ mỉ và cung cấp tư liệu. Toàn bộ tiến trình mang tính chất suy diễn, không phụ thuộc quá nhiều về các nguyên tắc logic hay kinh nghiệm con người cũng như sự tin cậy vào sức mạnh của chính quyền.

Trong khi phương pháp này đối với chúng ta dứt khoát không mang tính khoa học, nhưng đây là tiến trình được chấp nhận vào thời Trung cổ. Có nhiều bậc thầy trong phương pháp này, nhưng đặc biệt có năm người nổi bật trong truyền thống thuyết giá trị Aristotle là Albertus Magnus (1206-1280), Thomas Aquinas (k.1225-1274), Henry xứ Friemar (k.1245- 1340), Jean Buridan (k. 1295-1358), và Gerald Adonis (k. 1290-1349).

Là những người duy trì luật luân lý trong xã hội Trung cổ, quan tâm chính của giáo sĩ là công bằng chứ không phải là trao đổi. Hình thức công bằng là công bằng trao đổi (hoặc công bằng thay thế), đúng là vấn đề được Aristotle đề cập trong Tập V, Chương 5 trong tác phẩm Nìchomachean Ethics, ở đây Aristotle phát triển mô hình hỗ tương (xem phần trên), và chính từ quan điểm này mà kinh tế triết học Kinh viện xuất phát. Nội dung phân tích trao đổi của Aristotle cũng được chọn lọc ngay từ đầu nhưng chắc chắn có vẻ các bản dịch sau đó sang tiếng Ả Rập, Do Thái cổ và Latin không cắt đi chút nào những đoạn mơ hồ. Vì thế không phải ngạc nhiên khi các nhà triết học Kinh viện bỏ ra bốn thế kỷ để cố gỡ rối và giải thích ý nghĩa. Trong tiến trình, sự phân tích của triết học Kinh viện pha trộn khái niệm giá trị nguyên thủy của Aristotle với tư tưởng cân bằng. Đây cũng là một chuỗi lập luận kinh tế lưu truyền theo hai hướng khác nhau và không hội nhập với nhau trong hơn nửa thiên niên kỷ: một mặt là quan điểm giá trị quyết định phí tổn và mặt khác là giá trị quyết định nhu cầu.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)