>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình, gọi: 1900.6162
Trả lời:
1. Điều kiện cải chính hộ tịch.
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Hộ tịch 2014 thì hộ tịch là những sự kiện được quy định về việc xác nhận khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi. cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử; xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến chết.
Như vậy, việc làm lại giấy khai sinh được gọi là cải chỉnh hộ tịch. Vậy việc cải chính hộ tịch cần có điều kiện gì?
Điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch được quy định tại Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP như sau:
- Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó.
Việc cải chính hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.
2. Điều kiện đăng ký lại khai sinh.
Theo Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định về điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử cụ thể như sau:
- Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01/01/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.
- Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.
- Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ.
Như vậy, Việc đăng ký khai sinh chỉ được thực hiện trong trường hợp đã đăng ký khai sinh trước ngày 01/01/2016 nhưng sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất.
3. Thủ tục làm lại giấy khai sinh.
Theo quy định tại Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì " Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng". Theo đó vợ chồng sẽ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con. Nếu vợ tự ý đi làm lại giấy khai sinh mà thay đổi các yếu tố về nhân thân của con như: họ tên, quê quán,... mà không có sự đồng ý của chồng là trái với quy định của pháp luật.
Trường hợp các bên chấp nhận làm lại giấy khai sinh cho con thì cần chuẩn bị hồ sơ và thực hiện thủ tục như sau:
Căn cứ tại Điều 9 Thông tư 04/2020/TT-BTP, giấy tờ, tài liệu là cơ sở đăng ký lại khai sinh gồm:
- Bản sao Giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hợp lệ.
- Bản chính hoặc bản sao giấy tờ có giá trị thay thế Giấy khai sinh được cấp trước năm 1945 ở miền Bắc và trước 1975 ở miền Nam.
- Trường hợp không có giấy tờ nêu trên thì giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam cấp hợp lệ sau đây là cơ sở để xác định nội dung đăng ký lại khai sinh:
- Giấy chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân hoặc Hộ chiếu;
- Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú, giấy tờ chứng minh về nơi cư trú;
- Bằng tốt nghiệp, Giấy chứng nhận, Chứng chỉ, Học bạ, hồ sơ học tập do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận;
- Giấy tờ khác có thông tin về họ, tên, ngày, tháng, năm sinh của cá nhân.
Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao các giấy tờ nêu trên (nếu có) và cam đoan về việc đã nộp đủ các giấy tờ mình có.
Trường hợp giấy tờ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh không có thông tin chứng minh quan hệ cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan công an có thẩm quyền xác minh.
Sau khi chuẩn bị xong hồ sơ nêu trên:
- Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
Như vậy, người yêu cầu cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu và các giấy tờ liên quan tại Uỷ ban nhân dân cấp xã để thay đổi, cải chính hộ tịch. Tham khảo bài viết liên quan: Đăng ký khai sinh cho con mang họ mẹ được không ?
4. Trường hợp nào được thay đổi tên trong giấy khai sinh.
Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 28 quy định về các trường hợp được đổi tên như sau:
- Việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của người đó;
- Cha nuôi, mẹ để muốn lấy lại tên cho con đẻ mình khi con để không làm con nuôi của người khác nữa;
- Thay đổi tên khi cha đẻ, mẹ để hoặc ngoài con khi xác định cha, mẹ cho con.
- Tên của người lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình.
- Vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi.
- Khi xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính.
Nếu không có sai sót khi đăng ký khai sinh, không thuộc trường hợp cải chính tên, nhưng việc sử dụng tên đã đăng ký khai sinh gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó thì cá nhân, người đại diện theo pháp luật của họ có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận viẹc thay đổi tên theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015.
5. Uỷ quyền làm lại Giấy khai sinh như thế nào?
Việc làm lại Giấy khai sinh có thể được uỷ quyền cho người khác làm thay, việc thực hiện được điều chỉnh bởi Điều 2 Thông tư 104/2020/TT-BTP, cụ thể:
- Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch (sau đây gọi là yêu cầu đăng ký hộ tịch) được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay; trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con thì không được ủy quyền cho người khác thực hiện, nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại.
Việc ủy quyền phải lập thành văn bản, được chứng thực theo quy định của pháp luật. Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải chứng thực.
- Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh.
Theo đó, bố mẹ có thể nhận uỷ quyền làm thủ tục thay đổi cải chính hộ tịch cho con. Trong trường hợp đó chỉ cần nộp văn bản uỷ quyền và giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền để thực hiện thủ tục.
Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến Thủ tục làm lại giấy khai sinh. Nếu có vướng mắc liên quan đến bài viết, hãy gọi 1900.6162 để được Luật sư tư vấn hỗ trợ qua tổng đài trực tuyến. Rất mong nhận được sự hợp tác!