1. Khái niệm về đất công ?

Đất công được hiểu là loại đất được dành riêng cho mục đích công cộng bao gồm xây dựng đường phố, cầu đường, công viên, trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí công cộng và nhiều công trình khác nhằm phục vụ cho nhu cầu của cộng đồng. Điều này được quy định rõ trong điểm e khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013

Đất công được xem là tài sản quan trọng của Nhà nước, vì nó là nơi đáp ứng nhu cầu cơ bản của cộng đồng và góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng cho sự phát triển của đất nước. Do đó, quyền sở hữu đất công thuộc về Nhà nước và chỉ khi có văn bản hoặc quyết định của Nhà nước thì các cá nhân hay tổ chức mới được sở hữu và sử dụng đất công

Việc giữ gìn và sử dụng hiệu quả đất công là một nhiệm vụ rất quan trọng, không chỉ để đảm bảo sự tiến bộ của đất nước mà còn để đáp ứng nhu cầu cơ bản của cộng đồng. Chính vì vậy, các cơ quan chức năng cần thực hiện chặt chẽ quản lý, kiểm tra và đảm bảo việc sử dụng đất công được thực hiện đúng mục đích và có hiệu quả cao nhất.

Theo quy định tại Điều 132 Luật Đất đai năm 2013 thì quỹ đất nông nghiệp có thể sử dụng cho mục đích công ích của xã, phường, thị trấn do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt

Việc sử dụng quỹ đất nông nghiệp vào mục đích công ích không được quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản để phục vụ cho nhu cầu công ích của địa phương. Nguồn cung cấp cho quỹ đất nông nghiệp là đất nông nghiệp được các tổ chức, hộ gia đình hoặc cá nhân trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng đất của Nhà nước, đất khai hoang hoặc đất nông nghiệp thu hồi

Qũy đất nông nghiệp được sử dụng cho mục đích xây dựng các công trình công cộng của xã, phường, thị trấn. Trong trường hợp còn đất dư thừa, hộ gia đình hoặc cá nhân có thể thuê đất để sản xuất nông nghiệp hoặc nuôi trồng thủy sản theo hình thức đấu giá. Thời hạn sử dụng đất với mỗi lần thuê không được quá 5 năm

Tiền thu được từ việc cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích phải nộp vào ngân sách nhà nước do Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý và chỉ được sử dụng cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật. Điều này giúp đảm bảo rằng nguồn lực tài chính này được sử dụng một cách hợp lý và mang lại lợi ích tốt nhất cho cộng đồng địa phương.

2. Hành vi lấn chiếm đất đai được hiểu như thế nào?

Hành vi lấn, chiếm đất đai có thể hiểu là  việc sử dụng đất một cách trái phép, bao gồm các hành vi như: không được cơ quan nhà nước cấp phép sử dụng đất; sử dụng đất sau khi hết thời hạn giao, cho thuê đất không được nha nước gia hạn sử dụng mà không trả lại đất; sử dụng đất trước khi thực hiện thủ tục giao đất; sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc tự chuyển dịch mốc giới, ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất.

Hành vi này là hành vi bị cấm trong lĩnh vực đất đai, được quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013. Hành vi vi phạm đất đai có thể gây ra hậu quả nghiêm tọng, gây tổn thất về tài sản, môi trường, ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng. Do đó, việc tuân thủ quy định về sử dụng đất và tránh vi phạm pháp luật về đất đai là rất quan tọng trong việc đảm bảo quyền lợi của cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước.

Theo quy định tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ, vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai bao gồm hành vi lấn đất và chiếm đất. Hành vi lấn đất được định nghĩa là việc người sử dụng đất dịch chuyển hoặc thay đổi ranh giới, mốc giới của thửa đất trên thực tế để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không có sự cho phép của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai hoặc không có sự cho phép của người sử dụng hợp pháp diện tích đất đó.

Hành vi chiếm đất bao gồm các trường hợp cụ thể:

- Tự ý sử dụng đất mà không có sự cho phép của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai

- Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức hoặc cá nhân khác mà không được sự cho phép của tổ chức hoặc cá nhân đó.

- Sử dụng đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng, trừ trương hợp hộ gia đình hoặc cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp

- Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật

Vì vậy, hành vi lấn đất thể hiện dấu hiệu dịch chuyển hoặc thay đổi ranh giới, mốc giới của thửa đất trên thực tế so với diện tích được quy định trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. trong khi đó, hành vi chiếm đất là việc sử dụng đất mà không có sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không có sự cho phép của người sử dụng đất hợp pháp đất đó.

3. Lấn, chiếm đất công có được cấp sổ đỏ không hay bị thu hồi?

Luật Đất đai năm, 2013 quy định một số hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, trong đó có trường hợp về lấn, chiếm, hủy hoại đất đai, đây là những hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất trong lĩnh vực đất đai, bao gồm việc sử dụng đất đai hợp pháp, thay đổi ranh giới, mốc giới của thửa đất mà không được cơ quan quản lý đất đai cho phép hoặc không tuân thủ các quy định về bảo vệ và phát triển tài nguyên đất đai.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CPNghị định 01/2017/NĐ-CP quy định về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với việc lấn chiếm đất cụ thể phải đáp ứng hai điều kiện là 

- Không có tranh chấp đất: đất lấn chiếm không được tranh chấp về quyền sử dụng đất

- Sử dụng ổn định: đất lấn chiếm đã được sử dụng ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2014

Ngoài ra, chỉ hộ gia đình và cá nhân mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không áp dụng cho tổ chức. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp lấn chiếm đất đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ những trương hợp người sử dụng đất đã sử dụng đất ổn định và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật

Như vậy, hành vi lấn, chiếm đất công bởi người dân xây nhà thì phần đất lấn chiếm không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sẽ bị thu hồi trừ trường hợp đất lấn chiếm trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 và đủ điều kiện để được công nhạn, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 228 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017  quy định về các hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng đất đai, có thể sẽ bị truy cứu  trách nhiệm hình sự bao gồm: 

- Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai và đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án tội này nhưng vẫn tiếp tục vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 tháng hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì sẽ bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 2 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: vi phạm do có tổ chức thực hiện, phạm tội 2 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm

Trên đây là toàn bộ nội dung thông tin tư vấn về chủ đề lấn, chiếm đất công được cấp sổ đỏ hay bị thu hồi mà Luật Minh Khuê cung cấp tới quý khách hàng. Ngoài ra, quý khách hàng có thể tham khảo bài viết về chủ đề tố cáo hành vi lấn chiếm đất công được thực hiện thế nào của Luật Minh Khuê. Còn điều gì vướng mắc, quý khách hàng vui lòng liên hệ hotline 1900.6162 hoặc gửi email đến: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh hợp tác. trân trọng./.