1. Người lao động có được công ty cho làm việc tại nhà không?

Dựa theo Điều 167 của Bộ luật Lao động năm 2019, việc người lao động thực hiện công việc tại nhà được quy định như sau: Theo quy định, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để tiến hành công việc tại nhà. Hiện tại, luật không đề cập rõ ràng đến việc người lao động phải làm việc tại văn phòng hay tại nhà, hoặc ở một vị trí cụ thể nào khác. Thực tế, điều này phụ thuộc hoàn toàn vào sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Việc làm việc tại nhà (hoặc làm việc từ xa) đang trở nên phổ biến hơn, đặc biệt là trong bối cảnh của sự phát triển của công nghệ thông tin và việc áp dụng các công nghệ kỹ thuật số.

Do đó, trong trường hợp cụ thể của bạn, việc công ty cho phép nhân viên thực hiện công việc tại nhà là hợp lệ dựa trên căn cứ pháp lý từ Bộ luật Lao động.

2. Quy định về trả lương cho người lao động làm việc tại nhà

Dựa trên Điều 95 của Bộ luật Lao động năm 2019 về việc trả lương cho người lao động, các điểm cụ thể như sau: Người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động dựa trên các yếu tố như tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc. Tiền lương được ghi trong hợp đồng lao động và được trả bằng tiền Đồng Việt Nam, trừ trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam thì có thể trả bằng ngoại tệ. Mỗi khi trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động, trong đó cần ghi rõ các khoản như tiền lương, tiền làm thêm giờ, tiền làm việc vào ban đêm, cũng như các khoản khấu trừ (nếu có).

Có thể thấy, việc trả lương cho người lao động thực sự phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng công việc thực hiện, không phụ thuộc vào địa điểm làm việc. Vì vậy, nếu người lao động vẫn duy trì được năng suất và chất lượng công việc khi làm việc tại nhà, người sử dụng lao động vẫn phải trả đầy đủ lương theo thỏa thuận ban đầu. Trong trường hợp có sự thỏa thuận về khối lượng công việc, tính chất công việc khi làm việc tại nhà, thì cả người lao động và người sử dụng lao động có thể thảo luận và thỏa thuận lại về mức lương tương ứng. Điều này có thể là do việc làm việc từ xa có thể ảnh hưởng đến một số yếu tố như chi phí vận chuyển, tiện ích, hoặc mức độ tự chịu trách nhiệm của người lao động. Tuy nhiên, quan trọng là bất kỳ điều chỉnh nào về mức lương cũng cần được thực hiện một cách công bằng và tuân thủ các quy định pháp luật về lao động và hợp đồng lao động.

3. Người lao động làm việc tại nhà có được tham gia bảo hiểm xã hội?

Dựa trên khoản 3 của Điều 85 trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014 về mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, các điểm cụ thể như sau: Mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau: Người lao động không làm việc và không nhận tiền lương trong ít nhất 14 ngày làm việc trong một tháng thì trong tháng đó họ không phải đóng bảo hiểm xã hội và cũng không được hưởng các quyền lợi của bảo hiểm xã hội như bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thai sản... Tuy nhiên, nếu người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản, thì trong thời gian đó họ vẫn được tính vào danh sách hưởng các quyền lợi của bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

Do đó, người lao động làm việc tại nhà, ngay cả khi họ vẫn nhận lương, vẫn phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định.

4. Xử phạt khi công ty không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động làm việc tại nhà

Dựa trên Điều 17 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, các hành vi bị nghiêm cấm khi tham gia bảo hiểm bắt buộc được quy định như sau: Trốn tránh việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc bảo hiểm thất nghiệp; Chậm trễ đóng tiền bảo hiểm xã hội hoặc bảo hiểm thất nghiệp; Sử dụng sai mục đích tiền đóng hoặc hưởng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp; Lừa đảo hoặc làm giả mạo hồ sơ để gian lận trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp; Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm thất nghiệp không tuân thủ theo quy định pháp luật; Gây trở ngại hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động; Truy cập, sử dụng cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp một cách trái phép; Cung cấp thông tin hoặc số liệu không chính xác về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. Do đó, hành vi trốn tránh đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là một trong các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.

Dựa trên Điều 122 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 về xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, các điểm cụ thể như sau: Cơ quan hoặc tổ chức vi phạm quy định của luật này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính tùy thuộc vào tính chất và mức độ của vi phạm. Trong trường hợp gây thiệt hại, họ cũng phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Cá nhân vi phạm quy định của luật này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào tính chất và mức độ của vi phạm. Nếu gây ra thiệt hại, họ cũng phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Người sử dụng lao động vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều 17 của luật này trong thời gian từ 30 ngày trở lên sẽ không chỉ phải đóng đủ số tiền chưa nộp hoặc chậm nộp và bị xử lý theo quy định của pháp luật mà còn phải nộp tiền lãi theo mức lãi suất quy định. Trong trường hợp không thực hiện, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành trừ từ tài khoản tiền gửi của họ để nộp số tiền còn thiếu và lãi vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Theo Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi trốn đóng, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với tổ chức, mức phạt sẽ gấp đôi mức phạt đối với cá nhân.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 10 của Điều 39 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp sẽ phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể như sau: Buộc người sử dụng lao động phải đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 5, 6, 7 của Điều này; Buộc người sử dụng lao động phải nộp khoản tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước đó, tính trên số tiền và thời gian chậm đóng, không đóng, trốn đóng, chiếm dụng tiền đóng. Trong trường hợp không thực hiện, cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, hoặc kho bạc nhà nước trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền còn thiếu và lãi vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội. Lãi suất tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.

Do đó, nếu công ty của bạn không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho nhân viên làm việc tại nhà, sẽ bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng và phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như đã nêu trên.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Người lao động có được quyền nhận việc về làm tại nhà hay không ? 

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!