1. Quy định về thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con trong khoảng thời gian là 06 tháng. Trong đó, thời gian nghỉ trước khi sinh không được vượt quá 02 tháng. Điều này có nghĩa là người lao động nữ có quyền nghỉ việc và được hưởng chế độ thai sản trong 06 tháng, bao gồm cả thời gian trước khi sinh và sau khi sinh.
- Nếu lao động nữ sinh đôi trở lên, thì từ con thứ 02 trở đi, người mẹ sẽ được nghỉ thêm 01 tháng cho mỗi con. Điều này có nghĩa là mỗi khi có thêm một đứa con, thời gian nghỉ thai sản sẽ tăng thêm 01 tháng so với trường hợp sinh con đơn.
- Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, trong trường hợp con của người mẹ dưới 02 tháng tuổi mất đi, người mẹ sẽ được nghỉ việc trong 04 tháng tính từ ngày sinh con. Trong trường hợp con từ 02 tháng trở lên mất đi, người mẹ sẽ được nghỉ việc trong 02 tháng tính từ ngày con chết. Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng trong phạm vi thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đã quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019. Điều này có nghĩa là thời gian nghỉ việc trong trường hợp con chết không được tính vào thời gian nghỉ thai sản riêng theo quy định của pháp luật về lao động.
- Tóm lại, theo quy định hiện hành, lao động nữ sẽ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con trong khoảng thời gian là 06 tháng, bao gồm cả thời gian trước khi sinh và sau khi sinh. Tuy nhiên, trong trường hợp con chết, thời gian nghỉ việc không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019 và không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.
2. Chưa hết thời gian nghỉ thai sản thì lao động nữ có được đi làm không?
Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ thông thường sẽ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con trong vòng 6 tháng. Tuy nhiên, trong trường hợp muốn đi làm trước thời gian này, lao động nữ cần đáp ứng một số điều kiện quy định tại khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019.
- Theo đó, trước khi hết thời gian nghỉ thai sản như quy định, lao động nữ có thể trở lại làm việc nếu đã nghỉ ít nhất 4 tháng và tuân thủ các điều kiện sau đây: đầu tiên, lao động nữ phải thông báo trước cho người sử dụng lao động về ý định muốn đi làm sớm. Tiếp theo, lao động nữ cần được sự đồng ý của người sử dụng lao động. Cuối cùng, lao động nữ cần có xác nhận từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm mà không gây hại cho sức khỏe của bản thân.
- Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc được trả bởi người sử dụng lao động, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Như vậy, để đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ đã nghỉ ít nhất 4 tháng và cần tuân thủ các điều kiện như thông báo trước, sự đồng ý của người sử dụng lao động và xác nhận từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm mà không gây hại cho sức khỏe.
3. Quyền lợi đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản của người lao động nữ
Quyền lợi của người lao động nữ khi đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản được quy định như sau: Theo khoản 2 Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người lao động nữ có quyền được đi làm trước khi kết thúc thời gian nghỉ thai sản. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương từ những ngày làm việc, người lao động nữ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội.
- Ngoài ra, theo điểm c khoản 2 Điều 12 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, mức hưởng chế độ thai sản được quy định như sau: Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong một tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội. Trong trường hợp người lao động nữ đi làm trước khi kết thúc thời hạn nghỉ thai sản, thời gian từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Từ thời điểm đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, người lao động nữ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, người lao động và người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trong thời gian này.
- Do đó, để được đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, bạn phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019. Khi bạn đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, bạn vẫn sẽ nhận được lương từ công ty và được hưởng chế độ thai sản như bình thường. Tuy nhiên, từ thời điểm đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, bạn và công ty phải đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.
4. Mức đóng bảo hiểm khi đi làm sớm sau thai sản ?
- Khi người lao động quay trở lại công việc sau khoảng thời gian nghỉ thai sản, việc đóng bảo hiểm xã hội sẽ phụ thuộc vào mức lương mà người sử dụng lao động đang trả. Trong trường hợp này, người lao động sẽ có hai nguồn thu nhập chính, bao gồm tiền trợ cấp thai sản từ cơ quan bảo hiểm xã hội và tiền lương từ người sử dụng lao động.
- Theo khoản 2 của Điều 89 trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, mức lương sẽ được sử dụng làm cơ sở để tính toán số tiền bảo hiểm xã hội phải đóng, bao gồm cả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định.
- Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ban hành ngày 09 tháng 12 năm 2015, được sửa đổi bởi Thông tư số 06/2021/TT-BLĐTBXH, đã cung cấp hướng dẫn chi tiết về các khoản tiền được sử dụng làm cơ sở để tính bảo hiểm xã hội, bao gồm:
+ Mức lương trả theo công việc/chức danh hiện tại của người lao động.
+ Các khoản phụ cấp lương để bù đắp các yếu tố liên quan đến công việc.
+ Các khoản bổ sung khác được xác định cụ thể trong hợp đồng lao động và thường được trả đều đặn theo kỳ trả lương.
- Theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2017, người lao động sẽ phải trích 10,5% mỗi tháng từ mức lương của mình để đóng các loại bảo hiểm, bao gồm: 8% vào quỹ hưu trí và tử tuất (BHXH), 1% vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp và 1,5% vào quỹ bảo hiểm y tế. Việc đóng bảo hiểm theo tỷ lệ này sẽ giúp người lao động được bảo đảm các quyền lợi xã hội như hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế trong tương lai.
Tóm lại, khi người lao động trở lại làm việc sau thai sản, việc đóng bảo hiểm xã hội sẽ được tính dựa trên mức lương hiện tại và các khoản phụ cấp liên quan. Người lao động sẽ phải trích 10,5% từ mức lương của mình để đóng bảo hiểm xã hội, bao gồm quỹ hưu trí và tử tuất, quỹ bảo hiểm thất nghiệp và quỹ bảo hiểm y tế. Điều này đảm bảo rằng người lao động sẽ nhận được các quyền lợi xã hội phù hợp trong tương lai.
Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết sau của Luật Minh Khuê >>> Lao động nữ mang thai có được đi trễ hoặc về sớm 1 giờ không ?
Khi quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến bài viết hoặc pháp luật, chúng tôi luôn sẵn lòng hỗ trợ và giải đáp mọi vấn đề.
Để đảm bảo quý khách nhận được sự hỗ trợ chuyên nghiệp và tận tâm, chúng tôi đã tạo ra các kênh liên lạc như tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6162 và địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn!