1. Định nghĩa về lao động nữ
Lao động nữ là thuật ngữ được sử dụng để chỉ phụ nữ tham gia vào hoạt động kinh tế và lao động trong môi trường công việc. Định nghĩa này áp dụng cho phụ nữ từ độ tuổi lao động cho phép cho đến khi họ đạt đến tuổi nghỉ hưu hoặc ngừng lao động. Lao động nữ gồm các hoạt động như làm việc trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, hành chính, giáo dục, y tế, và nhiều lĩnh vực khác. Phụ nữ có thể tham gia vào lao động tự do, làm việc trong các công ty, tổ chức, xí nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hoặc tự kinh doanh.
Quyền và bảo vệ cho lao động nữ được quy định bởi các luật pháp và quy định của từng quốc gia. Những quy định này nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng và công bằng giữa nam và nữ trong môi trường lao động, đảm bảo quyền lợi và an toàn cho lao động nữ, và hỗ trợ việc kết hợp giữa vai trò công việc và vai trò gia đình của phụ nữ.
2. Tổng hợp những quyền lợi của lao động nữ
Lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động được bảo đảm các quyền và nghĩa vụ như người lao động nam và được nhà nước đảm bảo quyền bình đẳng về mọi mặt. Bộ Luật Lao động 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đưa ra những quy định riêng đối với lao động nữ nhằm đảm bảo quyền làm việc và quyền bình đẳng giới của phụ nữ, tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện tốt chức năng lao động và chức năng làm mẹ, chăm sóc gia đình và nuôi dạy thế hệ trẻ. Dưới đây là nội dung về danh sách những quyền lợi của người lao động nữ mà công ty Luật minh Khuê tổng hợp để gửi tới quý khách hàng tham khảo như sau:
- Quyền được khám chuyên khoa phụ sản
Theo quy định tại Điều 21 của Luật An toàn, vệ sinh lao động và Khoản 1 Điều 80 của Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người lao động được quyền được khám sức khỏe ít nhất 1 lần mỗi năm. Tuy nhiên, đối với những người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, cũng như người lao động khuyết tật, người lao động chưa thành niên và người lao động cao tuổi, quyền khám sức khỏe được tăng cường hơn và được thực hiện ít nhất 6 tháng một lần. Trong quá trình khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt là đối với lao động nữ, sẽ có khám chuyên khoa phụ sản theo danh mục khám chuyên khoa phụ sản do Bộ Y tế ban hành. Điều này đảm bảo rằng người lao động nữ được chăm sóc sức khỏe sinh sản một cách đầy đủ và chuyên sâu để đảm bảo sức khỏe của họ và giảm thiểu các rủi ro liên quan đến mang thai và sinh sản.
=> Quyền được khám chuyên khoa phụ sản định kỳ này đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và phát hiện sớm các vấn đề về sức khỏe sinh sản của người lao động nữ, đồng thời đảm bảo sự an toàn và tránh các vấn đề tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của họ và sự phát triển của thai nhi.
- Quyền được nghỉ 30 phút/ngày trong thời gian hành kinh
Theo quy định tại khoản 4 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 3 Điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ trong thời gian hành kinh được được nghỉ 30 phút mỗi ngày. Thời gian nghỉ này tính vào giờ làm việc và người lao động nữ sẽ được hưởng đủ lương theo hợp đồng lao động. Số ngày có thời gian nghỉ trong thời gian hành kinh sẽ được thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, nhưng tối thiểu là 03 ngày làm việc trong mỗi tháng. Trong trường hợp người lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được sự đồng ý từ phía người sử dụng lao động, người lao động sẽ tiếp tục làm việc và sẽ được trả thêm tiền lương tương ứng với thời gian đã được nghỉ mà vẫn làm việc.
=> Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi và sức khỏe của lao động nữ trong thời gian hành kinh, giúp họ có thời gian nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe một cách tối ưu.
- Quyền được nghỉ 60 phút/ngày trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Theo quy định tại khoản 4 Điều 137 của Bộ luật Lao động 2019 và khoản 4 Điều 80 của Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ 60 phút/ngày trong thời gian làm việc để có thời gian cho việc cho con bú, vắt sữa, trữ sữa và nghỉ ngơi. Trong thời gian nghỉ này, người lao động vẫn được hưởng đầy đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Trong trường hợp người lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động tiếp tục làm việc, ngoài tiền lương được hưởng theo quy định, người lao động cũng sẽ được trả thêm một khoản tiền lương phụ theo công việc mà người lao động đã thực hiện trong thời gian được nghỉ. Điều này nhằm đảm bảo rằng người lao động được đền bù công việc đã làm trong thời gian bị nghỉ để nuôi con nhỏ.
=> Quy định này mang lại lợi ích cho người lao động nữ trong việc nuôi dưỡng con nhỏ và đảm bảo rằng việc nuôi con không ảnh hưởng đến quyền lợi và tiền lương của họ.
- Quyền không phải làm đêm, làm thêm, đi công tác xa khi mang thai hoặc nuôi con nhỏ
Theo khoản 1 của Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được yêu cầu hoặc sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:
+ Mang thai từ tháng thứ 7 trở đi hoặc từ tháng thứ 6 trở đi nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo: Khi người lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 trở đi hoặc từ tháng thứ 6 trở đi nếu làm việc ở các vùng đặc biệt khó khăn như vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới hoặc hải đảo, người sử dụng lao động không được yêu cầu hoặc sử dụng lao động nữ trong các công việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa.
+ Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi: Trừ khi có sự đồng ý của người lao động nữ, người sử dụng lao động không được yêu cầu lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa trong thời gian đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này nhằm đảm bảo cho người lao động nữ có thời gian và điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng con nhỏ.
Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của người lao động nữ khi đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ. Bằng việc không yêu cầu hoặc sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa, người lao động nữ được đảm bảo có thời gian nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc con cái một cách tốt nhất trong giai đoạn quan trọng của cuộc sống.
- Quyền được chuyển công việc nhẹ hơn khi mang thai và nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Theo khoản 2 Điều 137 của Bộ luật Lao động 2019, người lao động nữ có quyền yêu cầu chuyển công việc nhẹ hơn trong trường hợp đang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi đang mang thai. Điều kiện là người lao động nữ đã thông báo cho người sử dụng lao động về tình trạng mang thai của mình. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động phải chuyển người lao động nữ sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày, mà không được cắt giảm tiền lương và các quyền, lợi ích khác, từ thời điểm người lao động thông báo cho người sử dụng lao động đến khi kết thúc thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
=> Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe và sự phát triển của người lao động nữ trong giai đoạn mang thai và nuôi con nhỏ. Nó đảm bảo rằng người lao động không phải tiếp tục thực hiện các công việc có nguy cơ đối với sức khỏe và sự phát triển của bản thân và thai nhi. Thay vào đó, họ được chuyển đến làm các công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc được giảm bớt thời gian làm việc để đảm bảo sự an toàn và tránh ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe của mẹ và trẻ.
- Quyền được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động trong thời gian mang thai hoặc nuôi con nhỏ
Theo khoản 3 của Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, khi hợp đồng lao động của lao động nữ hết hạn trong thời gian đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới. Điều này đảm bảo rằng lao động nữ không bị ảnh hưởng đến quyền lợi và ổn định công việc trong giai đoạn quan trọng của việc mang thai và chăm sóc con nhỏ. Quy định này đặt người lao động nữ trong vị trí ưu tiên khi người sử dụng lao động xem xét việc gia hạn hợp đồng lao động. Trong trường hợp hợp đồng lao động hết hạn, người lao động nữ có quyền được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới trước các ứng viên khác. Điều này đảm bảo rằng người lao động nữ sẽ tiếp tục được công nhận và duy trì một công việc ổn định trong thời gian quan trọng của việc sinh con và nuôi dưỡng con nhỏ.
Quyền ưu tiên này nhằm bảo vệ quyền lợi và đảm bảo sự công bằng cho người lao động nữ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để họ tiếp tục công việc sau khi kết thúc thời gian mang thai hoặc nuôi con nhỏ. Tuy nhiên, để được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới, người lao động nữ cần đáp ứng các yêu cầu và điều kiện khác nhau do người sử dụng lao động đề ra, như thỏa thuận về điều kiện làm việc và lương bổng.
- Quyền không bị xử lý kỷ luật khi mang thai và nuôi con nhỏ
Theo điểm d khoản 4 Điều 122 của Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được áp dụng biện pháp kỷ luật đối với người lao động trong thời gian mang thai và nghỉ thai sản, cũng như nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này đảm bảo rằng người lao động không bị xử lý kỷ luật nếu vi phạm nội quy lao động trong thời gian mang thai và nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này mang ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động phụ nữ trong giai đoạn quan trọng của việc sinh con và chăm sóc con nhỏ.
Tuy nhiên, sau khi kết thúc thời gian mang thai, nghỉ thai sản và nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động vẫn có thể bị xử lý kỷ luật nếu vi phạm nội quy lao động. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động có thể kéo dài, và sau khi hết thời gian được bảo vệ, người lao động phụ nữ cũng chịu trách nhiệm tuân thủ các quy định và nội quy của nơi làm việc. Tổ chức và người sử dụng lao động cần tuân thủ quy định này để đảm bảo quyền bình đẳng và công bằng cho người lao động phụ nữ trong quá trình mang thai, nghỉ thai sản và nuôi con nhỏ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho họ hoàn thành vai trò làm cha mẹ và phát triển sự nghiệp của mình.
- Quyền được nghỉ thai sản trước và sau sinh con 6 tháng
Theo Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019, chế độ nghỉ thai sản cho lao động nữ được quy định như sau:
- Thời gian nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng. Trong đó, thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 2 tháng.
- Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên, tính từ con thứ 2 trở đi, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng cho mỗi con.
- Trong suốt thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm Xã hội (BHXH). Điều này bao gồm tiền trợ cấp thai sản và các chế độ khác liên quan đến bảo hiểm xã hội.
- Hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể nghỉ thêm một khoảng thời gian không hưởng lương sau khi thỏa thuận với người sử dụng lao động.
- Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất 4 tháng. Tuy nhiên, việc trở lại làm việc phải được báo trước, đồng ý bởi người sử dụng lao động và có xác nhận từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm Xã hội.
=> Điều này đảm bảo rằng lao động nữ có đủ thời gian để nghỉ dưỡng và chăm sóc cho sức khỏe sau khi sinh con. Chế độ nghỉ thai sản cũng đảm bảo quyền lợi về lương và các khoản trợ cấp thai sản cho lao động nữ theo quy định của pháp luật.
- Quyền được đảm bảo việc làm sau chế độ thai sản
Theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền được đảm bảo việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi hoàn thành thời gian nghỉ theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019 mà không bị giảm tiền lương và không mất quyền, lợi ích so với trước khi nghỉ thai sản. Điều này đảm bảo rằng người lao động khi trở lại công việc sau chế độ thai sản sẽ tiếp tục được làm việc trong vị trí công việc cũ của mình, và không bị giảm tiền lương so với trước khi nghỉ thai sản. Người sử dụng lao động không được phép giảm quyền và lợi ích của người lao động sau khi họ trở lại làm việc.
Trong trường hợp việc làm cũ không còn sẵn có, người sử dụng lao động phải bố trí cho người lao động việc làm khác với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản. Điều này đảm bảo rằng người lao động không chỉ có quyền trở lại làm việc sau chế độ thai sản mà còn được đảm bảo mức lương tương đương hoặc cao hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản. Quyền được bảo đảm việc làm sau chế độ thai sản là một quyền quan trọng giúp bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động phụ nữ trong quá trình trở lại làm việc sau khi sinh con và đảm bảo tính công bằng và bình đẳng trong môi trường lao động.
- Quyền không bị sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Theo Điều 137 của Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động nghiêm cấm sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này bảo vệ quyền lợi của lao động nữ trong giai đoạn mang thai, nghỉ thai sản và thời gian nuôi con nhỏ. Người lao động không thể bị sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng chỉ vì những lý do trên. Điều này đảm bảo rằng người lao động nữ có thể tận hưởng quyền lợi của mình trong quá trình kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản và chăm sóc con nhỏ một cách hợp pháp và công bằng. Quy định này cũng áp dụng cho cả việc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này đồng nghĩa với việc người lao động nữ không thể bị sa thải hoặc chấm dứt hợp đồng vì lí do nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ trong việc chăm sóc con cái và thực hiện vai trò làm mẹ trong gia đình.
=> Quy định này đặt một cơ sở pháp lý vững chắc để người lao động nữ được bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử và đảm bảo quyền lợi của họ trong các giai đoạn quan trọng của cuộc sống cá nhân và gia đình.
- Quyền được lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ nếu doanh nghiệp sử dụng hơn 1000 lao động nữ
Theo khoản 5 Điều 80 của Nghị định 145/2020/NĐ-CP, trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng từ 1000 người lao động nữ trở lên, người sử dụng lao động phải lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Điều này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của lao động nữ trong việc vắt sữa mẹ và lưu trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Phòng vắt, trữ sữa mẹ được lắp đặt nhằm cung cấp không gian riêng tư và thuận tiện cho lao động nữ có thể vắt sữa mẹ và bảo quản sữa mẹ sau khi vắt.
Ngoài việc đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ, Nghị định cũng khuyến khích người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của lao động nữ và khả năng của người sử dụng lao động. Điều này đảm bảo rằng doanh nghiệp có thể tạo điều kiện thuận lợi nhất cho lao động nữ trong việc vắt sữa mẹ và lưu trữ sữa mẹ một cách an toàn và hợp pháp.
=> Việc lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc cho doanh nghiệp sử dụng hơn 1000 lao động nữ là một biện pháp quan trọng nhằm đảm bảo quyền lợi và chăm sóc sức khỏe cho lao động nữ trong quá trình làm việc và vai trò quan trọng của việc cho con bú và nuôi con bằng sữa mẹ.
- Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi mang thai
Theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ mang thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp việc làm tiếp tục có thể gây ảnh hưởng xấu tới thai nhi và có xác nhận từ cơ sở khám chữa bệnh. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng này được áp dụng trong tình huống khi việc làm tiếp tục có thể gây nguy hiểm hoặc có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của thai nhi. Để có thể thực hiện quyền này, lao động nữ cần có xác nhận từ cơ sở khám chữa bệnh về tình trạng mang thai và sự ảnh hưởng tiềm năng của công việc đối với thai nhi.
Trong trường hợp này, dù không đảm bảo thời gian báo trước theo quy định của pháp luật, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của lao động nữ mang thai vẫn được coi là hợp pháp. Điều này có nghĩa là lao động nữ mang thai có quyền chấm dứt hợp đồng mà không cần tuân thủ quy định về thời gian báo trước thông thường. Tuy nhiên, việc chấm dứt hợp đồng cần được dựa trên xác nhận từ cơ sở khám chữa bệnh và có liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ sức khỏe của thai nhi và người lao động nữ.
- Quyền được tạm hoãn hợp đồng lao động khi mang thai
Theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ mang thai có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền cho biết rằng việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi, được quyền tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Khi tạm hoãn hợp đồng, lao động nữ mang thai phải thông báo cho người sử dụng lao động và cung cấp xác nhận từ cơ sở khám chữa bệnh. Xác nhận này sẽ chứng minh rằng việc tiếp tục làm việc có thể gây hại cho sức khỏe của thai nhi.
Trong trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn được quyết định theo thỏa thuận giữa lao động nữ và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, thời gian tạm hoãn tối thiểu phải bằng thời gian do cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường hợp không có chỉ định thời gian tạm nghỉ từ cơ sở khám chữa bệnh, hai bên sẽ thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
=> Quyền tạm hoãn hợp đồng lao động cho lao động nữ mang thai nhằm đảm bảo sự an toàn và bình đẳng giới trong quá trình mang thai, đồng thời tạo điều kiện cho lao động nữ có thời gian nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe cho bản thân và thai nhi.
- Quyền bình đẳng với lao động nam về lương, thưởng, thăng tiến
Theo khoản 1 Điều 78 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện quyền bình đẳng của lao động nữ và lao động nam trong nhiều khía cạnh, bao gồm lương, thưởng, thăng tiến và các quyền khác. Dưới đây là chi tiết về quyền bình đẳng với lao động nam về lương, thưởng, thăng tiến:
- Người sử dụng lao động phải đảm bảo quyền bình đẳng về lương cho lao động nam. Điều này có nghĩa là người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử giữa lao động nam và lao động nữ trong việc xác định mức lương. Công ty phải trả mức lương công bằng và không phân biệt dựa trên giới tính của nhân viên.
- Lao động nam cũng có quyền nhận các khoản thưởng như lao động nữ. Người sử dụng lao động không được áp dụng chính sách thưởng phân biệt giới tính hoặc thiên vị đối với lao động nam. Mọi hình thức thưởng và phúc lợi phải được cung cấp một cách công bằng và dựa trên thành tích công việc của nhân viên.
- Lao động nam có quyền tham gia vào quy trình thăng tiến như lao động nữ. Người sử dụng lao động phải đánh giá và xem xét khả năng và thành tích công việc của lao động nam một cách công bằng. Quyết định về việc thăng tiến phải dựa trên năng lực và đóng góp của nhân viên, không được phân biệt giới tính.
Ngoài ra, quyền bình đẳng với lao động nam còn bao gồm các chế độ khác như Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), các chế độ về điều kiện lao động, an toàn lao động, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, chế độ ốm đau, thai sản và các chế độ phúc lợi về mặt vật chất và tinh thần. Tất cả các quyền này phải được đảm bảo công bằng và không phân biệt giới tính của lao động.
- Quyền được hưởng BHXH chế độ thai sản
Theo quy định tại Điều 32 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, trong thời gian mang thai, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản từ Bảo hiểm xã hội. Trong quá trình mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai và nhận chăm sóc y tế. Theo quy định, lao động nữ được nghỉ việc đi khám thai 05 lần, mỗi lần được nghỉ 01 ngày. Đây là những lần khám thai thông thường để kiểm tra sức khỏe của mẹ và thai nhi. Trường hợp lao động nữ sống ở xa cơ sở khám chữa bệnh hoặc có bệnh lý hoặc thai không bình thường, lao động nữ được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai để có đủ thời gian đi lại và nhận điều trị.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, trong trường hợp sẩy thai, nạo thai, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản từ Bảo hiểm xã hội. Thời gian nghỉ việc và hưởng chế độ thai sản phụ thuộc vào tuần tuổi của thai nhi. Cụ thể, lao động nữ được nghỉ việc và hưởng chế độ thai sản tối đa như sau:
- 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi.
- 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi.
- 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi.
- 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên.
Trong thời gian nghỉ việc và hưởng chế độ thai sản, lao động nữ sẽ được trả mức lương bình quân hàng tháng của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc. Quyền lợi này nhằm đảm bảo sự an tâm và đủ điều kiện cho lao động nữ trong quá trình mang thai và chăm sóc sức khỏe của mình.
3. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi sử dụng lao động nữ tham gia lao động
Theo Điều 136 của Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có những trách nhiệm sau đối với lao động nữ:
- Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác: Người sử dụng lao động phải không phân biệt đối xử dựa trên giới tính trong quá trình tuyển dụng và các quyết định về việc làm, đào tạo, lương bổng, khen thưởng, thăng tiến, trả công lao động và các chế độ khác. Họ cũng phải thúc đẩy bình đẳng giới trong tổ chức công việc và đảm bảo cơ hội công bằng cho phụ nữ.
- Tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ: Người sử dụng lao động cần lắng nghe ý kiến của phụ nữ lao động hoặc đại diện của họ khi đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của phụ nữ trong môi trường làm việc.
- Bảo đảm có đủ buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc: Người sử dụng lao động phải cung cấp đủ các tiện nghi như buồng tắm và buồng vệ sinh phù hợp để đảm bảo sự thoải mái và sức khỏe cho lao động nữ trong quá trình làm việc.
- Giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho người lao động: Người sử dụng lao động có trách nhiệm hỗ trợ xây dựng và cung cấp các dịch vụ như nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc hỗ trợ tài chính một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho phụ nữ lao động, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ kết hợp giữa vai trò công việc và vai trò gia đình.
Điều này đồng nghĩa với việc người sử dụng lao động phải thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, tiền lương, khen thưởng, thăng tiến, trả công lao động, các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện lao động, an toàn lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, các chế độ phúc lợi khác về vật chất và tinh thần.
Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê:
- Trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ có được quyền đi làm muộn, đi về sớm hay không?
- Lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai thì có được chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hay không?
Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!